Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG LÁT

TỈNH THANH HOÁ

Bản án số: 07/2025/HS-ST

Ngày 26/3/2025.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Minh.

  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Văn Cường và bà Phạm Thị Mấy.

  • - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Công Nam - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát tham gia phiên tòa: Ông Phạm Viết Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 26/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2025/TLST-HS ngày 21/02/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS ngày 11/3/2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Hạng A S1; sinh năm 2004 tại xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa; nơi thường trú: Bản Ún, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa; nơi tạm trú: Số nhà D, khu L, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin lành; quốc tịch: Việt Nam; số Căn cước công dân: [...]; con ông Hạng A P (đã chết) và bà Sùng Thị M, sinh năm 1966; bị cáo chưa có vợ, chưa có con; tiền án: Không; tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ ngày 22/10/2024, chuyển tạm giam từ ngày 01/11/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện M và Phân trại tạm giam khu vực Q thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh T cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  2. Họ và tên: Nông Văn Đ; sinh năm 2005 tại xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nơi thường trú: Thôn P, xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nơi tạm trú: Số nhà D, khu L, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 11/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; số Căn cước công dân: [...]; con ông Nông Văn Đ1, sinh năm 1984 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1986; bị cáo chưa có vợ, chưa có con; tiền án: Không; tiền sự: Không.

2

Bị cáo bị tạm giữ ngày 22/10/2024, chuyển tạm giam từ ngày 01/11/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện M và Phân trại tạm giam khu vực Q thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh T cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  1. Anh Vi Văn L, sinh năm 1984.

    Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt có đơn xin vắng mặt.

  2. Chị Thao Hoa M1, sinh năm 2003.

    Địa chỉ: Bản C, xã N, huyện M, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt có đơn xin vắng mặt.

  3. Anh Sung Pó S, sinh năm 1996.

    Địa chỉ: Bản C, xã N, huyện M, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt có đơn xin vắng mặt.

  4. Anh Lương Văn D, sinh năm 1996.

    Địa chỉ: Bản T, xã T, huyện M, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt có đơn xin vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Hữu D1, sinh năm 1980.

    Địa chỉ: Thôn L, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, vắng mặt có đơn xin vắng mặt.

  2. Chị Dương Thị Thu X, sinh năm 2007.

    Địa chỉ: Thôn S, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng, vắng mặt có đơn xin vắng mặt.

  3. - Người đại diện hợp pháp của chị Dương Thị Thu X: ông Dương Văn T, sinh năm 1976.

    Địa chỉ: Thôn S, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng, vắng mặt có đơn xin vắng mặt.

  4. Anh Hạng A D2, sinh năm 1996.

    Địa chỉ: Bản Ú, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt có đơn xin vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Anh Quách Duy T1, sinh năm 1995.

    Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình; vắng mặt.

  2. Anh Trịnh Duy M2, sinh năm 1980.

    Địa chỉ: Bản T, xã T, huyện M, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

3

  1. Chị Vi Thị C, sinh năm 2007.

    Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

  2. - Người đại diện hợp pháp của chị Vi Thị C: Anh Vi Văn L1, sinh năm 1982.

    Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

  3. 4. Chị Đinh Thị T2, sinh năm 1979.

    Địa chỉ: Bản T, xã T, huyện M, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

  4. 5. Ông Đỗ Văn B, sinh năm 1966.

    Địa chỉ: Khu B, thị trấn M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 20/10/2024, anh Lương Văn D, sinh năm 1996, trú tại bản Táo, xã T, huyện M, tỉnh Thanh Hóa đi xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha, màu trắng đen bạc, biển kiểm soát 36K1-082.23 đến nhà anh trai ruột là anh Lương Văn D3, sinh năm 1990 cùng trú tại bản Táo, xã T huyện M, tỉnh Thanh Hóa để ngủ. Khi đến nhà anh D3, anh D cất xe máy vào khu vực gầm sàn nhà rồi khóa xe và đi ngủ. Đến khoảng 06 giờ sáng ngày 21/10/2024, khi ngủ dậy thì anh D phát hiện chiếc xe máy đã bị mất trộm nên làm đơn trình báo Công an xã T, huyện M.

Cùng ngày 21/10/2024, Công an xã N, huyện M nhận đơn trình báo của anh Sung Pó S, sinh năm 1996, trú tại Bản C, xã N, huyện M với nội dung: Vào chiều ngày 20/10/2024, chị Thao Hoa M1, sinh năm 2003 là vợ anh đi chợ về để 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha, biển kiểm soát 36AF-016.59, màu đen trước cửa nhà. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, anh đi soi, bắt ếch trở về nhà thì vẫn thấy chiếc xe máy để ở trước cửa nhà rồi đi ngủ. Đến khoảng 06 giờ sáng ngày 21/10/2024, khi anh S ngủ dậy thì phát hiện xe máy để trước cửa nhà đã bị mất.

Từ các nội dung trình báo trên, qua điều tra, truy xét, chiều ngày 22/10/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nông Văn Đ, Hạng A và Dương Thị Thu X.

Quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp như sau:

Khoảng cuối tháng 09 năm 2024, do không có tiền tiêu nên Hạng A S1, và Nông Văn Đ là bạn bè, quen biết nhau từ trước đã cùng nhau bàn bạc, rủ nhau đi trộm cắp xe máy bán lấy tiền tiêu. Hạng A S1 nói với Đ về việc trên địa bàn huyện M, tỉnh Thanh Hóa có nhiều xe máy để ven đường không có người trông coi nên cả hai đã thống nhất đi về huyện M, tỉnh Thanh Hóa để lấy trộm xe máy. Khoảng 06 giờ sáng ngày 30/9/2024, S1 và Đ bắt xe khách Hoàng P1 đi từ tỉnh Bắc Ninh về

4

huyện M, tỉnh Thanh Hóa để tìm xe máy trộm cắp. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày S1 và Đ đi xe khách đến thị trấn M, huyện M thì xuống xe, sau khi chơi game, ăn uống đến khoảng 01 giờ sáng ngày 01/10/2024, Đ và S1 đi bộ dạo quanh thị trấn M mục đích tìm xe máy để lấy trộm. Khi đi đến Khu C, thị trấn M, huyện M thì phát hiện có 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha màu đen, biển kiểm soát 36K1-08841, có 01 gương chiếu hậu bên trái đang để ven đường, không có chìa khoá xe, không có người trông coi thì Nông Văn Đ và Hạng A S1 đã thống nhất lấy trộm chiếc xe máy trên, S1 dắt xe đi khoảng 50m thì rút dây điện ở phần ổ khoá xe và đấu dây để nổ máy còn Đ thì dùng tay tháo biển số xe. Sau đó S1 điều khiển xe máy vừa trộm được chở Đ ngồi phía sau xe cầm biển số xe 36K1-08841 đi theo hướng Cầu C thuộc thị trấn M, huyện M đi xã M, huyện M, qua xã T, huyện Q đi Hòa Bình và về phòng trọ của Đ tại Số nhà D, khu L, phường V, Thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Khi về đến nhà trọ của Đ cả hai để xe máy tại khu vực để xe của nhà trọ, Đ và S1 mang biển số xe 36K1-08841 lên phòng trọ của Đ để cất giấu. Sau đó Đ dùng điện thoại cá nhân của Đ, đăng bán chiếc xe máy trộm được trên mạng xã hội Facebook của Đ, lúc này có người đàn ông tên D4 có nickname Facebook là “D4” vào nhắn tin hỏi mua chiếc xe. Quá trình trao đổi, nói chuyện trên mạng xã hội Facebook thì Đ và người đàn ông tên D4 đã thống nhất mua bán chiếc xe máy với giá tiền 6.300.000đ (Sáu triệu ba trăm nghìn đồng). Khoảng 02 (hai) ngày sau khi trộm xe máy thì Đ mang xe máy đến một khu vực đường ở thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (Đ không nhớ chính xác tên đường) giao bán chiếc xe cho người đàn ông tên D4. Khi mua xe máy thì người đàn ông tên D4 không lấy biển số xe (36K1-08841), Đ và S1 vẫn cất giấu biển số ở phòng trọ của Đ. Sau khi bán xe máy được với giá tiền 6.300.000đ thì Đ và S1 đã cùng nhau tiêu hết toàn bộ số tiền.

Chiếc xe máy này là của anh Vi Văn L, sinh năm 1984 trú tại Khu phố T, thị trấn M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Vào tối ngày 29/9/2024, anh L điều khiển xe máy chở con gái là Vi Thị C xuống khu vực nhà trọ H2 tại Khu C, thị trấn M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa để C đi trọ học. Khi chở C đến khu vực nhà trọ H, do trời mưa nên anh L đã để chiếc xe máy ven đường cạnh nhà trọ, rút chìa khoá xe và bắt xe khách về nhà, đến ngày 01/10/2024 thì bị Đ và S1 trộm cắp.

Đến khoảng ngày 18 và 19/10/2024, Dương Thị Thu X sinh ngày 28/9/2007, trú tại thôn S, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng là người yêu của Đ đến ở cùng phòng trọ với Đ tại Số nhà D, khu L, phường V, Thành phố B, tỉnh Bắc Ninh và Hạng A S1 cũng đến ở cùng khu trọ với Đ và X. Do không còn tiền tiêu nên S1 và Đ tiếp tục bàn bạc về huyện M để tìm xe máy trộm cắp bán lấy tiền. Đ và S1 nói dối X là vào huyện M để lấy xe máy của bạn S1 với giá rẻ để mang ra Bắc Ninh bán lại kiếm lời nên X xin đi cùng thì được Đ và S1 đồng ý. Khoảng 06 giờ ngày 20/10/2024, Đ, S1, X đã đi xe khách Hoàng P1 từ cầu vượt L, Phương L2, Q, Bắc Ninh về huyện M. Khi xe khách Hoàng P1 đi đến khu vực huyện L, tỉnh Hòa Bình thì cả ba xuống trạm dừng nghỉ của nhà xe nghỉ ngơi, ăn uống và sau đó chuyển sang xe Hoàng Phương khác biển kiểm soát 36A-008.60 để tiếp tục đi về huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Khi xe khách đến khu vực Trạm y tế xã T thuộc bản T, xã T,

5

huyện M thì cả ba xuống xe và đi vào nhà nghỉ N1 thuê 01 (một) phòng để cả ba nghỉ ngơi.

Đến khoảng 22 giờ 30 phút ngày 20/10/2024, Đ và S1 nói với X đi bộ ra ngoài đường để tìm mua thuốc lá để hút và bảo X ở phòng nghỉ, sau đó Đ và anh S1 đi bộ dọc đường mục đích là đi mua thuốc lá và tìm xe máy trộm cắp, cả hai nhìn thấy 01 (một) chiếc xe máy biển kiểm soát 36K1- 082.23, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha, màu trắng đen bạc, đã qua sử dụng, không có gương chiếu hậu đang để ở sân trước cửa nhà, không có người trông coi. Sau khi mua được thuốc lá và hút thuốc xong, Đ và S1 đã trộm chiếc xe máy nói trên, do không có chìa khoá xe nên S1 đã giật dây điện khỏi ổ khoá rồi nối dây để nổ máy còn Đ tháo biển số xe và ném xuống khu vực phía taluy âm của đường, sau đó Đ và S1 giật cốp xe máy thì phát hiện ở bên trong cốp xe có 01 (một) chiếc Cờ lê bằng kim loại. Đây là chiếc xe máy mà anh Lương Văn D bị mất và có đơn trình báo Công an xã T, huyện M vào ngày 21/10/2024.

Sau khi trộm được xe thì S1 điều khiển xe chở Đ ngồi sau đi đến khu vực bản C, xã N, huyện M, tỉnh Thanh Hóa tìm thêm xe máy để trộm cắp thì phát hiện có 01 (một) xe máy biển kiểm soát 36AF-01659, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha, màu đen, xe có hai gương chiếu hậu đang để ở trước cửa nhà không có người trông coi. Đ và S1 đã lấy trộm thêm chiếc xe máy này, sau khi trộm xe máy thì Đ ngồi thả trôi xe xuống dốc khoảng 100m thì S1 tiếp tục nối dây điện để nổ máy, còn Đ sử dụng chiếc Cờ lê của xe trộm được trước đó tháo biển số xe, sau đó tháo 02 (hai) chiếc gương chiếu hậu của xe và vứt ven đường gần vị trí trộm xe. Đây là chiếc xe máy mà gia đình anh Sung Pó S, chị Thao Hoa M1 bị mất và có đơn trình báo Công an xã N, huyện M vào ngày 21/10/2024.

Sau khi lấy trộm thêm được chiếc xe máy màu đen thì S1 điều khiển xe máy màu trắng đi trước để dẫn đường còn Đ điều khiển xe máy màu đen đi phía sau do không thạo đường. Cả hai đi theo hướng xuống dốc Ngã ba bản Táo, xã T, huyện M hướng đi cầu C. Khi đi đến một điểm sạt lở thì dừng xe lại và cất giấu xe máy màu trắng ở ven đường, sau đó Đ chở S1 cùng đi về nhà nghỉ N1 bằng xe máy màu đen. Về đến nhà nghỉ N1, Đ và S1 nói với X rằng đã lấy được xe của bạn S1 rồi và bảo Xuân dọn đồ đi về, S1 điều khiển xe máy màu đen chở Đ và X đến vị trí cất giấu xe máy màu trắng. Khi đến nơi giấu xe, Đ điều khiển xe đen và chở X ngồi phía sau, còn S1 một mình điều khiển xe trắng cả ba đi theo hướng khu vực cầu C, xã M, huyện M đi xã T, huyện Q qua tỉnh Hòa Bình để về phòng trọ của Đ tại Số nhà D, khu L, phường V, Thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

Đến khoảng trưa ngày 21/10/2024, cả ba về đến phòng trọ, lúc này Đ và S1 để hai chiếc xe máy trộm cắp được tại khu vực để xe của phòng trọ. Sau đó Đ và S1 mang biển số 36AF-01659 lên phòng trọ của Đ để cất giấu, Đ lấy điện thoại di động của X, đăng nhập tài khoản mạng xã hội Facebook của Đ là “Đô Văn N” rồi đăng vào nhóm “Mua bán xe không giấy tờ ở Bắc Ninh” với nội dung bán chiếc xe máy màu trắng trộm được ở trên. Khi Đ đăng lên nhóm thì có Nguyễn Hữu D1, sinh năm 1980 trú tại Thôn L, xã T, Thị xã V, tỉnh Bắc Ninh, có nickname Facebook

6

là “Nguyễn Dậu” vào bình luận, nhắn tin, gọi điện trên M3 hỏi mua xe, Nông Văn Đ và người đàn ông thống nhất giá mua bán xe là 6.000.000₫ (Sáu triệu đồng) và hẹn giao xe tại khu vực Cổng công viên L thuộc phường V, Thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

Khoảng 10 giờ sáng ngày 22/10/2024, Đ và S1 lắp biển số xe máy 36K1-08841 (là biển số chiếc xe máy Đô và S1 trộm cắp của anh Vi Văn L vào ngày 01/10/2024) vào chiếc xe máy màu trắng, sau đó Đ điều khiển xe chở X ngồi sau đi đến khu vực cổng công viên L để bán xe cho Nguyễn Hữu D1, lúc này S1 có đi bán xe máy cùng nhưng đi bộ theo sau. Nguyễn Hữu D1 đã thuê xe taxi do Đàm Văn T3 để chở đến khu vực giao bán xe, trong lúc kiểm tra chiếc xe thì D1 có hỏi tại sao khoá cốp xe bị méo, không đóng được thì Đ nói rằng do bị đè nặng, không sao cả. Sau đó Nguyễn Hữu D1 đồng ý mua xe với giá 6.000.000đ (Sáu triệu đồng) và trả tiền bằng hình thức chuyển khoản. Lúc này Đ đang cầm điện thoại của X và biết tài khoản, mật khẩu ngân hàng của X nên Đ đã yêu cầu D1 quét mã vạch và chuyển số tiền 6.000.000đ (Sáu triệu đồng) mua xe vào tài khoản ngân hàng A, số tài khoản 8607205048213 của X. Sau khi chuyển tiền xong thì Nguyễn Hữu D1 nhận xe máy kèm theo 01 (một) chiếc chìa khoá và ra về. Số tiền 6.000.000₫ (Sáu triệu đồng) do bán xe máy cho D1 thì Đ và S1 đã mua cho S1 01 (một) chiếc điện thoại iphone XS màu đen với giá 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng); Đ, S1 và X cùng nhau tiêu hết số tiền 932.000đ (Chín trăm ba mươi hai nghìn đồng) bao gồm ăn uống, cắt tóc, gội đầu, đánh lại 01 (một) chiếc chìa khoá xe máy, số tiền còn lại là 2.568.000đ (Hai triệu năm trăm sáu mươi tám nghìn đồng) thì X cất giữ.

- Tại Bản kết luận định giá tài sản số 12/KL-ĐGTS ngày 28/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện M, tỉnh Thanh Hóa kết luận:

  • + 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen, số máy JA70E0367189, số khung RLHJA3935RY632720, đã qua sử dụng, chưa bị sữa chữa, hư hỏng gì; Anh Sung Pó S mua mới vào ngày 08/5/2024 với giá 23.500.000₫ (Hai mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng). Tại thời điểm tháng 10/2024 có giá trị 16.000.000đ đồng (mười sáu triệu đồng).

  • + 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu trắng đen bạc, số máy JA39E1391348, số khung 3911LY055254, đã qua sử dụng, chưa bị hư hỏng, sữa chữa gì; Anh Lương Văn D mua mới vào tháng 5 năm 2020 với giá 22.000.000₫ (Hai mươi hai triệu đồng). Tại thời điểm tháng 10/2024 có giá trị 12.333.000₫ (mười hai triệu ba trăm ba mươi ba nghìn đồng).

- Tại Bản kết luận định giá tài sản số 13/KL-ĐGTS ngày 19/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện M, tỉnh Thanh Hóa kết luận:

  • + 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, số máy JA39E2866481, số khung RLHJA3920NY714145, màu đen, xe đã qua sử dụng. Xe có 01 gương chiếu hậu bên trái, xe chưa bị hư hỏng, sữa chữa gì. Anh Vi Văn L

7

mua mới vào tháng 11/2022 với giá 24.500.000đ (hai mươi tư triệu năm trăm nghìn đồng). Tại thời điểm tháng 10/2024 có giá trị: 12.833.000đ đồng.

- Tại Bản kết luận giám định số 4593/KL-KTHS ngày 03/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Toàn bộ số tiền 1.068.000đ (một triệu không trăm sáu tám nghìn) thu giữ của Dương Thị Thu X là tiền thật.

- Về việc thu giữ, tạm giữ các vật chứng, đồ vật, tài liệu:

  • + Thu giữ, tạm giữ khi khám xét chỗ ở của Nông Văn Đ:

    • * 01 (một) biển số xe máy 36AF-016.59.

    • * 01 (một) mũ lưỡi trai màu đỏ, trắng, xanh có nhãn hiệu Dsquared2.

    • * 01 (một) chiếc cờ lê bằng kim loại, kích cỡ 10 - 14 màu bạc.

  • + Thu giữ, tạm giữ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nông Văn Đ:

    • * 01 (một) xe máy Honda, loại Wave alpha màu đen có số máy: JA70E0367189, số khung: RLHJA3935RY632720, xe đã qua sử dụng, không có biển kiểm soát. Không có gương chiếu hậu.

  • + Thu giữ, tạm giữ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hạng A.

    • * 01 (một) điện thoại Iphone Xs màu đen, có số sê ri: C39XJ98VKPFP (đã qua sử dụng).

  • + Thu giữ, tạm giữ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Dương Thị Thu X:

    • * 10 (mười) tờ tiền với tổng số tiền là 1.068.000₫ (một triệu không trăm sáu mươi tám nghìn đồng).

    • * 01 (một) điện thoại Iphone Xs Max, màu vàng, có số sê ri: G6TX7RMMKPJQ, bên trong có lắp sim số: 0366549332, máy đã qua sử dụng.

  • - Phong tỏa số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) trong tài khoản Ngân hàng của Dương Thị Thu X, số tài khoản 8607205048213 tại Ngân hàng Agribank tỉnh A theo Lệnh phong tỏa tài khoản số 170/LPT-CSĐT ngày 30/10/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Thanh Hoá.

  • + Thu giữ, tạm giữ từ Nguyễn Hữu D1:

    • * 01 (một) xe máy lắp biển kiểm soát 36K1-088.41, nhãn hiệu Honda, màu sơn trắng đen bạc, số máy J439E1391348, số khung: 3911LY055254, loại xe Wave Alpha, xe không có gương chiếu hậu, tình trạng đã qua sử dụng, phần chốt của khoá cốp xe bị méo dẫn đến không đóng cốp được.

    • * 01 (một) chìa khóa đánh số thứ tự (1).

  • + Thu giữ, tạm giữ trong quá trình xác định lại hiện trường vụ án:

    • * 02 (hai) chiếc gương xe máy;

8

  • * 01 (một) Biển số xe máy BKS 36K1-082.23.

- Về xử lý vật chứng, đồ vật, tài liệu:

  • + Đối với 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, màu sơn trắng đen bạc, loại xe Wave Alpha; 01 (một) Biển số xe máy BKS 36K1-082.23; 01 (một) cờ lê bằng kim loại màu bạc. Quá trình điều tra xác định các tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Lương Văn D nên ngày 01/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Thanh Hoá đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.

  • + Đối với vật chứng, tài sản là 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave alpha màu đen, không có biển kiểm soát, không có gương chiếu hậu; 01 (một) biển số xe 36AF-016.59; 02 (hai) chiếc gương xe máy. Quá trình điều tra xác định, các vật chứng là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Sung Pó S và chị Thao Hoa M1 nên ngày 01/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Thanh Hóa đã ra trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.

  • + Vật chứng, đồ vật, tài sản còn lại chưa giải quyết gồm:

    • * Số tiền 1.068.000đ (Một triệu không trăm sáu mươi tám nghìn đồng) thu giữ của Dương Thị Thu X được niêm phong trong phong bì do Phòng K Công an tỉnh T phát hành.

    • * 01 (một) điện thoại di động Iphone Xs Max, màu vàng, số Seri G6TX7RMMKPJQ, bên trong có 01 thẻ sim điện thoại số 0366.549.xxx, máy đã qua sử dụng;

    • * 01 (một) điện thoại di động Iphone Xs màu đen, số Seri C39XJ98VKPFP, máy đã qua sử dụng;

    • * 01 (một) Biển số xe máy 36K1-08841;

    • * 01 (một) chìa khóa đánh số thứ tự 1;

    • * 01 (một) mũ lưỡi trai màu đỏ, trắng, xanh có nhãn hiệu Dsquared2.

  • Các vật chứng, tài sản nêu trên hiện đang lưu giữ tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá theo quy định.

  • * Số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) trong tài khoản Ngân hàng của Dương Thị Thu X, số tài khoản 8607205048213 tại Ngân hàng Agribank tỉnh A, đang được phong toả theo Lệnh phong tỏa tài khoản số 170/LPT-CSĐT ngày 30/10/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Thanh Hoá.

  • - Đối với 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, số máy JA39E2866481, số khung RLHJA3920NY714145, màu đen, xe đã qua sử dụng là xe các bị cáo trộm cắp của anh Vi Văn L hiện chưa thu giữ được. Cơ quan điều tra đang tiếp tục truy tìm để xử lý theo quy định của pháp luật.

- Về phần dân sự:

9

Quá trình điều tra vụ án, anh H1 A D2 là anh trai của bị cáo Hạng A S1 đã thay S1 bồi thường thiệt hại, dân sự cho bị hại và những người có liên quan trong vụ án. Cụ thể như sau:

  • + Bồi thường cho anh Vi Văn L số tiền 6.500.000đ (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng).

  • + Tự nguyện bồi thường cho anh Sung Pó S số tiền 3.400.000đ (Ba triệu bốn trăm nghìn đồng) bao gồm các chi phí phát sinh trong quá trình anh Sung Pó S đi tìm chiếc xe máy bị mất vào ngày 21/10/2024.

  • + Bồi thường cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Hữu D1 số tiền 3.432.000đ là số tiền bán xe cho anh D1 nhưng các bị cáo đã sử dụng chi tiêu cá nhân nên không thu hồi được.

Anh Nguyễn Hữu D1 đề nghị được nhận lại số tiền còn lại mà Cơ quan điều tra thu giữ được là 1.068.000đ và số tiền đang bị phong toả trong tài khoản của Dương Thị Thu X là 1.500.000₫.

- Bị hại là anh Vi Văn L có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Hạng A S1 và yêu cầu bị cáo Nông Văn Đ phải bồi thường cho anh phần giá trị còn lại của chiếc xe bị trộm cắp là 6.333.000₫ (Sáu triệu ba trăm ba mươi ba nghìn đồng);

- Đối với Dương Thị Thu X là người đi cùng với Hạng A và Nông Văn Đ vào huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Qua điều tra xác định X không tham gia bàn bạc và không biết hành vi trộm xe máy của S1 và Đ. Khi rao bán chiếc xe máy trộm cắp, Nông Văn Đ sử dụng điện thoại di động của X nhưng đăng nhập bằng tài khoản Facebook của Đ, khi đi bán xe cho Nguyễn Hữu D1 thì Dương Thị Thu X có đi cùng với Hạng A S1 và Nông Văn Đ, tuy nhiên X không tham gia quá trình trao đổi mua, bán xe và X cũng không biết đây là xe do trộm cắp mà có. Việc anh D1 chuyển số tiền mua xe 6.000.000đ (sáu triệu đồng) vào số tài khoản ngân hàng của Dương Thị Thu X là do Đ và X là người yêu của nhau nên cả hai thường dùng chung điện thoại cá nhân và thường xuyên tiêu tiền chung của nhau. Vì vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự đối với Dương Thị Thu X.

- Đối với Nguyễn Hữu D1 là người đã mua chiếc xe máy được lắp biển kiểm soát 36K1-08841. Quá trình điều tra xác định khi mua xe anh D1 không biết chiếc xe mua được là do Hạng A S1 và Nông Văn Đ trộm cắp mà có. Vì vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý hình sự đối với Nguyễn Hữu D1 về hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

- Đối với người đàn ông đã mua chiếc xe máy mà Nông Văn Đ và Hạng A trộm cắp của anh Vi Văn L vào ngày 01/10/2024. Khi bán xe Đ là người trực tiếp giao bán xe, người đàn ông mua xe giới thiệu với Đ tên là D4, sinh năm 2002 trú tại Thôn T, xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Tuy nhiên, qua xác minh tại Công an xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn không có người đàn ông nào có thông tin như trên do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M tiếp tục tiến hành các biện pháp

10

truy tìm đối với chiếc xe máy nói trên và tiếp tục xác minh người đàn ông đã mua chiếc xe máy để làm rõ hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, nếu có đủ căn cứ sẽ xử lý trong một vụ án khác.

Tại Bản cáo trạng số: 08/CT-VKS-ML ngày 19/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá truy tố bị cáo H1 A S1 và bị cáo Nông Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên các bị cáo Hạng A, Nông Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng quy định tại: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với cả hai bị cáo; áp dụng thêm điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hạng A S1. Xử phạt bị cáo Hạng A S1 từ 28 đến 30 tháng tù; bị cáo Nông Văn Đ từ 28 đến 32 tháng tù.

Về trách nhiệm bồi thường: Buộc các bị cáo Nông Văn Đ, Hạng A có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho anh Vi Văn L số tiền 12.833.000đ, chấp nhận bị cáo Hạng A S1 đã bồi thường được 6.500.000đ, bị cáo Đ còn phải bồi thường số tiền 6.333.000₫.

Trả lại cho anh Nguyễn Hữu D1 số tiền 1.068.000₫ thu giữ của Dương Thị Thu X và số tiền đang bị phong toả trong tài khoản của Dương Thị Thu X là 1.500.000₫.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử

Trả lại cho Dương Thị Thu X 01 (một) điện thoại di động Iphone Xs Max, màu vàng, số Seri G6TX7RMMKPJQ, bên trong có 01 thẻ sim điện thoại số 0366.549.xxx, máy đã qua sử dụng; trả lại cho anh Vi Văn L 01 (một) Biển số xe máy 36K1-08841. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động Iphone Xs màu đen thu giữ của Hạng A. Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) chìa khóa đánh số thứ tự 1 và 01 (một) mũ lưỡi trai màu đỏ, trắng, xanh có nhãn hiệu Dsquared2.

Về án phí: Do gia đình bị cáo Hạng A thuộc diện hộ nghèo nên được miễn án phí. Buộc bị cáo Nông Văn Đ chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo thành khẩn nhận tội và không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.

Trong lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử các bị cáo mức án thấp nhất, tạo điều kiện cho các bị cáo sửa chữa lỗi lầm, sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

11

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cũng như Kết luận định giá tài sản. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về căn cứ định tội, định khung hình phạt đối với các bị cáo.

Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn nhận tội, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu tài sản, trong tháng 10 năm 2024, các bị cáo Hạng A, Nông Văn Đ đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện M, tỉnh Thanh Hóa, cụ thể:

Vào ngày 01/10/2024, tại thị trấn M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Hạng A S1, Nông Văn Đ cùng nhau trộm cắp tài sản là 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, biển kiểm soát: 36K1-08841, số máy JA39E2866481, số khung RLHJA3920NY714145, màu đen, xe đã qua sử dụng của anh Vi Văn L. Giá trị tài sản trộm cắp theo Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản là 12.833.000đ.

Ngày 20/10/2024, tại bản Táo, xã T, huyện M và bản C, xã N, huyện M, Nông Văn Đ và Hạng A S1 trộm cắp 02 chiếc xe máy. Một xe có biển kiểm soát 36K1-082.23, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha, màu trắng đen bạc, số máy JA39E1391348, số khung 3911L Y055254 là xe của anh Lương Văn D, theo kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản chiếc xe máy này có giá trị tại thời điểm bị trộm cắp là 12.333.000đ và 01 chiếc xe máy BKS 36AF-01659, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha, màu đen, số máy JA70E0367189, số khung RLHJA3935RY632720, là chiếc xe máy của anh Sung Pó S và chị Thao Hoa M1. Giá trị tài sản tại thời điểm trộm cắp theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản là 16.000.000₫.

Tổng giá trị tài sản mà Hạng A S1 và Nông Văn Đ đã trộm cắp theo kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản là 41.166.000₫ (Bốn mươi mốt triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).

Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

[3]. Xét tính chất vụ án: Tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, tuy nhiên hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương; gây dư luận bất bình trong nhân dân. Hành vi phạm tội của các bị cáo phải được xử lý nghiêm minh, áp dụng hình phạt tù

12

nghiêm khắc, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo; bảo đảm tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm.

[4]. Xét về vai trò của các bị cáo trong vụ án; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, mặc dù các bị cáo đã bàn bạc, thống nhất việc cùng nhau trộm cắp tài sản là xe máy để bán lấy tiền tiêu nhưng không có sự phân công vai trò cụ thể mà các bị cáo Hạng A S1 và Nông Văn Đ đều trực tiếp tham gia thực hiện hành vi phạm tội, mặc dù Hạng A S1 là người đưa ra ý tưởng để các bị cáo về huyện M trộm cắp tài sản do bị cáo là người địa phương, biết được thói quen của người dân địa phương thường để xe ở gầm nhà sàn, ven đường mà không có người trông coi nên dễ trộm cắp nhưng sau khi trộm cắp được tài sản thì bị cáo Nông Văn Đ lại là người trực tiếp rao bán xe, trực tiếp đi bán xe do đó các bị cáo đều là người thực hiện, giữ vai trò ngang nhau trong vụ án.

Các bị cáo Hạng A S1 và Nông Văn Đ đã hai lần thực hiện hành vi trộm cắp xe máy, trong đó có một lần trộm cắp 02 chiếc xe máy, các lần trộm cắp giá trị tài sản đều trên 2.000.000đ nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải nên cần áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với cả hai bị cáo, riêng đối với bị cáo Hạng A S1 do bị cáo đã tác động để người thân tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho các bị hại, nguyên đơn dân sự, các bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo và áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo nhẹ hơn bị cáo Đ thể hiện sự nghiêm mình, công bằng của pháp luật.

[5[. Về hình phạt bổ sung.

Các bị cáo đều là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, gia đình bị cáo Hạng A thuộc diện hộ nghèo nên nếu áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo thì không bảo đảm khả năng thi hành án do đó miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[6]. Về trách nhiệm dân sự:

- Các bị hại là chị Thao Thị M4, anh Sung Pó S và anh Lương Văn D đã nhận lại đầy đủ tài sản nên không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.

- Đối với bị hại là anh Vi Văn L, đã nhận một phần bồi thường của bị cáo Hạng A S1 với số tiền là 6.500.000đ, anh L yêu cầu bị cáo Nông Văn Đ tiếp tục bồi thường số tiền là 6.500.000đ. Hội đồng xét xử xét thấy, theo kết luận định giá tài sản thì tài sản của anh L bị các bị cáo trộm cắp có giá trị là 12.833.000đ, trong đó chấp nhận bị cáo S1 đã bồi thường được số tiền 6.500.000đ do đó chỉ có căn cứ buộc bị cáo Đ bồi thường số tiền còn thiếu là 6.333.000đ.

13

- Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh H1 A D2 là anh trai của bị cáo Hạng A S1, mặc dù anh D2 không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, tuy nhiên do có sự tác động của bị cáo S1 nên anh D2 đã tự nguyện bồi thường thay cho bị cáo để khắc phục một phần thiệt hại mà các bị cáo đã gây ra, Anh Hạng D2 tự nguyện không yêu cầu các bị cáo bồi hoàn cho anh số tiền trên nên miễn xét.

[6]. Về vật chứng, tài sản thu giữ trong vụ án:

- Đối với số tiền 1.068.000đ (một triệu không trăm sáu tám nghìn đồng) thu giữ của Dương Thị Thu X. Chị Dương Thị Thu X xác nhận đây là một phần trong số tiền mà anh Nguyễn Hữu D1 trả cho các bị cáo khi mua xe, do chiếc xe đã bị thu hồi trả lại cho bị hại và anh D1 không có lỗi nên trả lại cho anh Nguyễn Hữu D1.

- Đối với số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) trong tài khoản Ngân hàng của Dương Thị Thu X đang bị phong toả. Quá trình điều tra chị X xác nhận đây là số tiền còn lại trong tài khoản do anh D1 chuyển vào tài khoản của chị khi trả tiền mua xe của các bị cáo, do chiếc xe đã bị thu hồi trả lại cho bị hại và anh D1 không có lỗi nên trả lại cho anh D1.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động Iphone Xs Max, màu vàng, có số Seri G6TX7RMMKPJQ, bên trong có lắp 01 (một) sim điện thoại số 0366.549.xxx, máy đã qua sử dụng. Đây là tài sản của chị Dương Thị Thu X không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho chị Dương Thị Thu X.

- Đối với 01 (một) điện thoại màn hình cảm ứng của hãng Iphone Xs màu đen thu giữ của Hạng A, đây là điện thoại được mua bằng tiền do anh Nguyễn Hữu D1 trả cho các bị cáo khi mua xe máy do các bị cáo trộm cắp, do số tiền các bị cáo mua điện thoại, chi tiêu cá nhân không thu hồi được đã được anh trai bị cáo H1 A S1 tự nguyện bồi thường nên chiếc điện thoại thuộc quyền sở hữu của Hạng A, tuy nhiên quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, anh H1 A D2 và bị cáo Hạng A S1 tự nguyện không nhận lại tài sản là chiếc điện thoại trên nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

- Đối với vật chứng là 01 (một) Biển số xe máy 36K1-08841, đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Vi Văn L nên trả lại cho anh L.

- Đối với vật chứng là 01 (một) chìa khóa đánh số thứ tự 1; 01 (một) mũ lưỡi trai màu đỏ, trắng, xanh có nhãn hiệu Dsquared2 không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

[8]. Về án phí:

Gia đình bị cáo Hạng A S1 thuộc diện hộ nghèo nên được miễn án phí, bị cáo Nông Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền còn phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

14

  • - Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hạng A S1.

  • - Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nông Văn Đ.

  • - Tuyên bố: Các bị cáo Hạng A S1, Nông Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  • - Xử phạt: Bị cáo Hạng A (Hai mươi tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 22/10/2024.

  • - Xử phạt: Bị cáo Nông Văn Đ 32 (Ba mươi hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 22/10/2024.

  • - Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

  • - Về trách nhiệm bồi thường: Các bị cáo Hạng A S1, Nông Văn Đ có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho bị hại là anh Vi Văn L số tiền 12.833.000đ (Mười hai triệu tám trăm ba mươi ba nghìn đồng). Chấp nhận bị cáo Hạng A S1 đã bồi thường được số tiền là 6.500.000₫ (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Bị cáo Nông Văn Đ còn phải bồi thường số tiền 6.333.000đ (Sáu triệu ba trăm ba mươi ba nghìn đồng).

  • Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  • - Về xử lý vật chứng, tài sản, áp dụng biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46; các điểm a, b khoản 1; khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    • + Trả lại cho anh Nguyễn Hữu D1 số tiền 1.068.000đ (Một triệu không trăm sáu mươi tám nghìn đồng) được niêm phong trong phong bì do Phòng K Công an tỉnh T phát hành sau giám định.

    • + Trả lại cho chị Dương Thị Thu X một điện thoại di động Iphone Xs Max, màu vàng, số Seri G6TX7RMMKPJQ, bên trong có lắp 01 (một) sim điện thoại số 0366.549.xxx, máy đã qua sử dụng.

    • + Trả lại cho anh Vi Văn L 01 biển số xe máy 36K1-08841

    • + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại thoại di động Iphone Xs màu đen, có số Seri C39XJ98VKPEP, máy đã qua sử dụng.

    • + Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) chìa khóa đánh số thứ tự 1; 01 (một) mũ lưỡi trai màu đỏ, trắng, xanh có nhãn hiệu Dsquared2.

15

Các vật chứng, tài sản hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20 tháng 02 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát.

  • + Trả lại cho anh Nguyễn Hữu D1 số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) trong tài khoản Ngân hàng của Dương Thị Thu X.

Tiếp tục phong tỏa số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) trong tài khoản Ngân hàng của Dương Thị Thu X, số tài khoản 8607205048213 tại Ngân hàng Agribank tỉnh A. Theo Lệnh phong tỏa tài khoản số 170/LPT-CSĐT ngày 30/10/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Thanh Hoá để bảo đảm thi hành án.

- Về án phí: Căn cứ điểm đ, khoản 1, Điều 12, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hạng A S1.

Bị cáo Nông Văn Đ phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Các bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan và người đại diện vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận :

  • - Bị cáo;
  • - Người đại diện;
  • - Bị hại, người có QL&NVLQ;
  • - VKSND huyện Mường Lát;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hoá;
  • - UBND xã Mường Lý, huyện Mường Lát;
  • - UBND xã Nhất Tiến, huyện Bắc Sơn; tỉnh Lạng Sơn;
  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hoá;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Minh

16

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 07/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HẠNG A S VÀ NÔNG VĂN D TRỘM CẮP TÀI SẢN
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger