Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ AYUN PA

TỈNH GIA LAI


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 07/2025/HS-ST

Ngày: 25 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUN PA, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Toàn
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Huy Tuấn và bà Phan Thị Nhàn.
  • Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Ngọc Ánh, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 10/3/2025 đối với bị cáo:

Huỳnh Thị S, sinh ngày 20/10/1990 tại Gia Lai; nơi cư trú: Tổ E, phường S, thị xã A, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn B và bà Nguyễn Thị Ngọc H; chồng là Đào Duy H2 và có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/11/2024 đến ngày 30/11/2024 và được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

  • - Bị hại: Chị Đào Thị H1, sinh năm 1984.
  • Địa chỉ: Tổ E, phường C, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Xin vắng mặt.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đào Duy H2, sinh năm 1987.
  • Địa chỉ: Tổ E, phường S, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 26/11/2024, Huỳnh Thị S tham dự tiệc đầy tháng tại nhà chị Đào Thị Lan C (chị chồng của S) tại tổ E, phường H, A, Gia Lai. Lúc này, gia đình chị Đào Thị H1 (Sinh năm 1984, trú tại tổ E, phường C, A, là chị chồng của S) cũng dự tiệc đầy tháng tại nhà chị C nên S biết nhà chị H1 không có ai ở nhà. Do đang nợ nần túng thiếu nên S nảy sinh ý định đến nhà chị H1 trộm cắp tài sản. Thực hiện ý định, S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81M1-126.16 đến nhà chị H1, sau khi quan sát thấy không có ai, S dựng xe mô tô bên hông nhà rồi đi vòng ra sau nhà thì phát hiện cửa sau (làm bằng tôn) đã bị mục nên bẻ ngược mép dưới của cửa lên tạo thành khe hở rồi chui vào trong nhà. Khi vào nhà, S đi đến phòng ngủ của chị H1 lục lọi tủ quần áo thấy 01 (một) sấp tiền mệnh giá 10.000 đồng và 01 (một) con heo đất, S đập heo đất thấy bên trong có 01 (một) tờ mệnh giá 200.000 đồng, 01 (một) tờ mệnh giá 100.000 đồng và nhiều tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng, 20.000 đồng, S lấy toàn bộ số tiền bỏ vào túi quần rồi tiếp tục lục lọi lấy 01 (một) hộp đựng trang sức bên trong có 07 (bảy) vòng đeo tay và 01 (một) chiếc nhẫn bằng vàng. Sau khi trộm cắp tài sản, S về nhà mình cất giấu tài sản trộm cắp được. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, chị H1 về nhà thì phát hiện bị mất trộm tài sản nên trình báo cơ quan công an.

Đến 09 giờ 15' ngày 27/11/2024, Huỳnh Thị S đến Công an thị xã A, Gia Lai đầu thú và giao nộp: 07 (bảy) vòng kim loại màu vàng, 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng và số tiền 3.770.000 đồng (ba triệu bảy trăm bảy mươi bảy nghìn đồng), gồm: 01 (một) tờ polime mệnh giá 200.000 đồng, 01 (một) tờ polime mệnh giá 100.000 đồng, 36 (ba mươi sáu) tờ polime mệnh giá 50.000 đồng, 11 (mười một) tờ polime mệnh giá 20.000 đồng và 145 (một trăm bốn mươi lăm) tờ polime mệnh giá 10.000 đồng.

Tại kết luận giám định số 2682/KL-KTHS ngày 13/12/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng xác định:

  • - 07 (bảy) vòng bằng kim loại, màu vàng (mỗi vòng đều có đường kính 5,5cm; mặt trong đều có chữ và số “610 Ni 52”) đều có kim loại vàng (A) có hàm lượng trung bình của kim loại vàng là 61,0%; tổng khối lượng là 24,89gam.
  • - 01 (một) chiếc nhẫn bằng kim loại, màu vàng (đường kính 2cm; mặt trong có chữ “TTH”) đều có kim loại vàng (A) có hàm lượng trung bình của kim loại vàng là 61,0%; tổng khối lượng là 1,17gam.

Tại kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐGTS ngày 24/12/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã A kết luận: Vòng đeo tay có giá trị 34.212.130 đồng; nhẫn có giá trị 1.713.660 đồng. Tổng giá trị là 35.925.790 đồng (ba mươi lăm triệu chín trăm hai mươi lăm nghìn bảy trăm chín mươi đồng).

Vật chứng vụ án:

  • - 07 (bảy) vòng đeo tay kim loại màu vàng, 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng và số tiền 3.770.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Đào Thị H1 là chủ sở hữu hợp pháp.
  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ-đen-bạc mang biển kiểm soát 81M1-126.16, số khung RLHJK0301MY024065, số máy JK03E0030211, xe đã qua sử dụng, thuộc sở hữu hợp pháp của Đào Duy H2 (Sinh năm 1987, trú tại tổ E, phường S, thị xã A, Gia Lai, là chồng của Huỳnh Thị S).

Trách nhiệm dân sự: Bị hại Đào Thị H1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường và xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Trong quá trình điều tra, truy tố bị can Huỳnh Thị S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị can phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan và những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 07 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Huỳnh Thị S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị S phạm tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị HĐXX:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Huỳnh Thị S từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách bằng hai lần hình phạt tù. Giao bị cáo về cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú để giám sát giáo dục.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong tại giai đoạn điều tra nên không đề nghị xem xét.

Về xử lý vật chứng vụ án:

01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ-đen-bạc mang biển kiểm soát 81M1-126.16, số khung RLHJK0301MY024065, số máy JK03E0030211, xe đã qua sử dụng, thuộc sở hữu hợp pháp của Đào Duy H2 (Sinh năm 1987, trú tại tổ E, phường S, thị xã A, Gia Lai, là chồng của Huỳnh Thị S). Anh H2 không biết bị cáo S sử dụng xe mô tô để làm phương tiện di chuyển trộm cắp tài sản. Mặt khác, chiếc xe không phải là công cụ, phương tiện phục vụ đắc lực cho việc thực hiện tội phạm nên đề nghị trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Đào Duy Hoàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi của bị cáo Huỳnh Thị S: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, những người liên quan; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Bị cáo Huỳnh Thị S là em chồng của chị Đào Thị H1 (bị hại). Chiều tối ngày 26/11/2024, bị cáo và bị hại cùng gặp nhau tại đám tiệc của người thân nên bị cáo biết rõ nhà bị hại Đào Thị H1 (địa chỉ: tổ E, phường C, thị xã A, Gia Lai) không có người ở nhà. Biết rõ tình trạng nhà bị hại lúc này và bản thân bị cáo đang rơi vào hoàn cảnh túng quẫn do nợ nần nên vào khoảng 18 giờ cùng ngày, bị cáo đã dời đám tiệc, đi xe mô tô đến nhà chị H1 và lén lút vào trong nhà bằng cửa sau để trộm cắp tài sản. Bị cáo đã lục tìm trong tủ nhà chị H1 và lấy được một số tài sản gồm 3.770.000 đồng tiền mặt; 07 (bảy) vòng kim loại màu vàng, trị giá 34.212.130 đồng; 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng, trị giá 1.713.660 đồng. Tổng giá trị tài sản S đã chiếm đoạt là 39.695.790 đồng (ba mươi chín triệu sáu trăm chím mươi lăm nghìn bảy trăm chín mươi đồng). Các tình tiết khác như nội dung cáo trạng đã xác định.

Bị cáo có đủ năng lực pháp luật hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Tài sản chiếm đoạt được đủ định lượng của tội phạm bị truy tố. Vì vậy, hành vi của bị cáo S đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nói trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy rằng:

Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào trong vụ án này. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội bị cáo đã biết lo sợ và ăn năn nên đã chủ động đến cơ quan công an đầu thú và tự nguyện giao nộp lại toàn bộ tài sản trộm cắp được để kịp thời trả lại cho bị hại. Bị hại là người thân trong quan hệ gia đình với bị cáo, hiểu rõ hoàn cảnh dẫn đến phạm tội của bị cáo nên đã nhận lại đủ tài sản, không có yêu cầu gì khác và đã có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Với các nội dung nói trên, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo, HĐXX xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát về việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo nhưng xem xét cho bị cáo hưởng án treo và giao về cho chính quyền địa phương nơi bị cáo đang thường trú giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung là phù hợp. Vì vậy, có thể xem xét chấp nhận quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát trong việc xử lý bị cáo theo đề nghị nói trên.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đào Thị H1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên HĐXX không xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ-đen-bạc mang biển kiểm soát 81M1-126.16, số khung RLHJK0301MY024065, số máy JK03E0030211, xe đã qua sử dụng, thuộc sở hữu hợp pháp chung của anh Đào Duy H2 và bị cáo (anh H2 là chồng bị cáo). Anh H2 không có lỗi trong việc để bị cáo sử dụng chiếc xe nói trên để di chuyển đến địa điểm trộm cắp tài sản. Mặt khác, chiếc xe không phải là công cụ, phương tiện có ý nghĩa quyết định cho việc thực hiện tội phạm của bị cáo nên không tịch thu sung công quỹ mà căn cứ Điều 106 Bộ luật TTHS; khoản 2 Điều 47 BLHS trả lại cho anh H2 chiếc xe nói trên.

[6] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên: Cơ quan điều tra Công an thị xã A, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, tuân thủ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và người liên quan không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    • - Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên xử:

    Phạt bị cáo Huỳnh Thị S 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 25/3/2025. Bị cáo đã bị tạm giữ 03 ngày (Từ 27/11/2024 đến 30/11/2024).

    Giao bị cáo Huỳnh Thị S cho Ủy ban nhân dân phường S, thị xã A, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

    Trả lại cho anh Đào Duy H2 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ-đen-bạc mang biển kiểm soát 81M1-126.16, số khung RLHJK0301MY024065, số máy JK03E0030211, xe đã qua sử dụng.

    (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 12/02/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an thị xã A và Cơ quan Thi hành án dân sự thị xã AyunPa)

  3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Bị cáo Huỳnh Thị S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

  4. Quyền kháng cáo:

    Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 25/3/2025 đối với những người có mặt tại phiên tòa; thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày trích lục bản án được tống đạt hợp lệ đối với người vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo toàn bộ bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo đối với phần bản án liên quan đến bản thân mình.

    "Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự".

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Ayun Pa;
  • - CQ THA HS Công an T. Gia Lai;
  • - Chi cục THA DS TX. Ayun Pa;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA, Lưu trữ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Nguyễn Văn Toàn

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUN PA, TỈNH GIA LAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 07/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUN PA, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 18 giờ ngày 26/11/2024, Huỳnh Thị S tham dự tiệc đầy tháng tại nhà chị Đào Thị Lan C (chị chồng của S) tại tổ E, phường H, A, Gia Lai. Lúc này, gia đình chị Đào Thị H1 (Sinh năm 1984, trú tại tổ E, phường C, A, là chị chồng của S) cũng dự tiệc đầy tháng tại nhà chị C nên S biết nhà chị H1 không có ai ở nhà. Do đang nợ nần túng thiếu nên S nảy sinh ý định đến nhà chị H1 trộm cắp tài sản. Thực hiện ý định, S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81M1-126.16 đến nhà chị H1, sau khi quan sát thấy không có ai,
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger