|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC TỈNH ĐẮK NÔNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2025/HS-ST
Ngày 25-02-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Nguyên
Các hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đức Minh và ông Lưu Ngọc Khoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Nguyễn Thảo Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Giáp, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025 tại phòng xét xử, Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2025/HSST ngày 21 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 06/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Nông Văn C, sinh ngày 01 tháng 3 năm 1993; nơi sinh: tỉnh Cao Bằng; nơi đăng ký thường trú: X, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng; nơi cư trú: Bon B, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: Lớp 07/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn S (đã chết) và con bà Lục Thị R, sinh năm 1956; bị cáo chưa có vợ, con; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ 22-10-2024. Có mặt.
Tiền án, tiền sự: Không
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Hoàng Thị N, sinh năm 1991
Địa chỉ: Bon B, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Nông Văn C bị Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Năm 2022, Nông Văn C từ xóm Đ, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng đến xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông làm ăn, sinh sống. Nông Văn C là người nghiện ma túy.
Vào ngày 22-10-2024, C đến gặp và vay của bà Triệu Văn T, sinh năm 1997, trú tại: Bon B, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông số tiền 500.000 đồng để mua đồ dùng cá nhân. Sau đó, C mượn chiếc xe môtô biển kiểm soát 48H1-139.22 của chị Hoàng Thị N, sinh năm 1991, trú tại: Bon B, xã Đ, huyện T đi đến bản N, xã Đ, huyện T nhằm mục đích mua ma túy để sử dụng. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, C đi đến bờ đập của bản N thì gặp một người đàn ông (không xác định được nhân thân, lai lịch) nên C nhờ người này đi mua hộ C ma túy với số tiền 500.000 đồng thì được người đàn ông đồng ý. Sau đó, người đàn ông trên quay lại đưa cho C 01 gói ma túy được gói trong túi nilon màu hồng, C cầm gói ma túy trên đi đến vườn điều gần bờ đập bản N lấy một ít ra sử dụng, số còn lại C gói lại và gói thêm một túi nilon màu trắng bên ngoài rồi cầm trên tay điều khiển xe môtô đi về. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, khi đi đến địa phận bon Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T bắt quả tang, thu giữ 01 gói nilon màu trắng bọc gói nilon màu hồng, chứa chất rắn màu trắng (nghi là chất ma túy) cùng chiếc xe môtô biển kiểm soát 48H1 -139.22.
Tại phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 22-10-2024 của Công an huyện Tuy Đức và phiếu kết quả tình trạng nghiện ngày 28-10-2024 của Trung tâm Y tế huyện Tuy Đức xác định: Nông Văn C dương tính với chất ma túy và nghiện ma túy, loại Heroin.
Tại bản kết luận giám định số 493/KL- KTHS ngày 25-10-2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong 01 gói nilon màu hồng (bên ngoài gói nilon màu hồng bọc gói nilon màu trắng) được niêm phong trong bì thư gửi giám định là ma túy, loại Heroin, có khối lượng mẫu là 0,31736 gam. Hoàn lại sau giám định là 0,2756 gam ma túy Heroin.
Về vật chứng, đồ vật, tài liệu thu giữ, tạm giữ:
- 01 gói nilon màu trắng, bên trong có thêm 01 gói nilon màu hồng chứa chất rắn dạng bột, màu trắng.
- 01 xe môtô biển kiểm soát 48H1-139.22, nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ đen.
Tại bản cáo trạng số 10/CTr - VKS - TĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức quyết định truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Tuy Đức để xét xử bị cáo Nông Văn C, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Nông Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thừa nhận Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng, không oan và chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nông Văn C, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nông Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Bị cáo Nông Văn C từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Đề nghị chấp nhận Quyết định xử lý vật chứng số 29/QĐ-ĐCSHS, ngày 08 tháng 01 năm 2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức trả 01 xe môtô biển kiểm soát 48H1-139.22, nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ đen đã qua sử dụng cho bà Hoàng Thị N là chủ sở hữu hợp pháp.
Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 0,2756 gam ma túy Heroin (được hoàn lại sau giám định).
Tại phiên toà bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của người làm chứng, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1].Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Tuy Đức, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật.
[2]. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nông Văn C khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường và phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Muốn có ma túy để sử dụng nên vào ngày 22-10-2024 bị cáo Nông Văn C đi đến bản N, xã Đ, huyện T để mua ma túy. Tại bờ đập của bản N, C nhờ một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch mua hộ C 500.000 đồng tiền ma túy thì người đàn ông đồng ý. Sau đó, người đàn ông quay lại và đưa cho C 01 gói ma túy được gói trong túi nilon màu hồng, C cầm gói ma túy trên đi đến vườn điều gần bờ đập bản N lấy một ít ra sử dụng, số còn lại C gói lại và gói thêm một túi nilon màu trắng bên ngoài rồi cầm trên tay điều khiển xe môtô đi về. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, khi Nông Văn C đi đến địa phận bon Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức bắt quả tang, thu giữ 01 gói nilon màu trắng bọc gói nilon màu hồng, chứa chất rắn màu trắng.
Tại bản kết luận giám định số: 493/KL- KTHS ngày 25-10-2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong 01 gói nilon màu hồng (bên ngoài gói nilon màu hồng bọc gói nilon màu trắng) được niêm phong trong bì thư gửi giám định là ma túy, loại Heroin, có khối lượng mẫu là 0,31736 gam. Hoàn lại sau giám định là 0,2756 gam ma túy Heroin.
Do đó, có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nông Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
[3]. Đánh giá tính chất vụ án do bị cáo gây ra là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức rằng hành vi của mình là vi phạm pháp luật; xâm phạm trật tự, an toàn xã hội; gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân; bị toàn xã hội lên án nhưng do ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội.
Vì vậy, Hội đồng xét xử cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất hành vi mà bị cáo đã gây ra để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, thuộc hộ nghèo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về hình phạt:
Xét nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân biết chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.
[6]. Về xử lý vật chứng:
Đối với 0,2756 gam ma túy Heroin (được hoàn lại sau giám định) là vật chứng vụ án, cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tich thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe môtô biển kiểm soát 48H1-139.22, nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ đen quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bà Hoàng Thị N, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên ngày 08-01-2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 29/QĐ-ĐCSHS, ngày 08 tháng 01 năm 2025 trả lại tài sản cho bà Hoàng Thị N là chủ sở hữu hợp pháp nên cần chấp nhận.
[7]. Đối với hành vi của người đàn ông mua hộ ma túy cho Nông Văn C, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên chưa có cơ sở để xử lý.
[8]. Xét quan điểm và đường lối xử lý của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
[9]. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Nông Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nông Văn C 01 (một) năm 03 (ba) thàng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 22-10-2024).
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 0,2756 gam ma túy Heroin (Mẫu vật được hoàn lại sau giám định)
Chấp nhận Quyết định xử lý vật chứng số 29/QĐ-ĐCSHS, ngày 08 tháng 01 năm 2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức trả 01 xe môtô biển kiểm soát 48H1-139.22, nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ đen đã qua sử dụng cho bà Hoàng Thị N là chủ sở hữu hợp pháp.
-
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nông Văn C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hồng Nguyên |
Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)
- Số bản án: 07/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
