|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2025/HS-ST
Ngày 25-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Long Thị Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Vi Văn Coóng
Bà: Tô Thị Thi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Đàm Hải Thao - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2025/TLST-HS, ngày 13 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Sằm Văn T; sinh ngày 10-01-2001; nơi sinh: xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; nơi cư trú: xóm P, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sằm Văn D (đã chết) và bà Vương Thị S; Cha dượng: Dương Văn P; vợ, con: không có; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26-10-2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực huyện H, tỉnh Cao Bằng; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Sằm Văn T: Bà Ma Thị L - Trợ giúp viên pháp lý; nghề nghiệp: Viên chức, công tác tại Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C; có mặt.
- Bị hại:
1. Chị Sầm Thị H; sinh năm 1986; địa chỉ: xóm S, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng; có mặt.
2. Bà Lô Thị N; sinh năm 1972; địa chỉ: xóm D B, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Phan Thị H1; sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người phiên dịch: Ông Hoàng Chí C; sinh năm 1960; địa chỉ: xóm L, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 00' ngày 15-10-2024, bị cáo Sằm Văn T (tên đăng ký khai sinh; thời điểm đó Bị cáo còn có tên gọi là Dương Văn T1 theo căn cước công dân) trên đường đi chơi về qua xóm S, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng, nhìn thấy phía trước nhà người dân bên đường (nhà bà Sầm Thị H) có hai chiếc xe mô tô để trước cửa, nên T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt xe với mục đích sử dụng chiếc xe đi làm thuê lấy tiền về trả nợ. Sau khi quan sát xung quanh không thấy có người trông giữ xe, nên Bị cáo đã dắt chiếc xe mô tô BKS 98AB-080.43 (xe không gắn chìa khóa) đi theo hướng thị trấn T, huyện H để thay ổ khóa xe. Khi dắt xe đến xóm H, xã Đ, huyện H thì Bị cáo buồn ngủ, nên đã dựng chiếc xe mô tô BKS 98AB-080.43 vào lề đường tại vị trí tại đầu Cầu T, sau đó T đi vào ngủ trong ngôi nhà đang sửa chữa của anh La Văn Q tại đó. Tại đây, Sằm Văn T bị quần chúng nhân dân và Công an xã Đ phát hiện, cơ quan chức năng đã tạm giữ vật chứng chiếc xe mô tô BKS 98AB-080.43 (thuộc quản lý, sở hữu của chị Sầm Thị H). Vào khoảng 05 giờ ngày 19-10-2024, bị cáo Sằm Văn T có ý định đi Bắc Kạn làm thuê và đi bộ ra thị trấn N (huyện H, tỉnh Cao Bằng) để đón xe, tại đây vào khoảng 15 giờ 30' cùng ngày Bị cáo nhìn thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAWE BKS 11H1 5233 (thuộc sở hữu của bị hại bà Lô Thị N) đang dựng ngay vỉa hè (đoạn cây xăng thuộc phố H, thị trấn N) và gắn chìa khóa, Bị cáo liền lén lút dắt chiếc xe xuống đường và nổ máy điều khiển xe về Bắc Kạn làm thuê. Ngày 26-10-2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H tiến hành bắt Sằm Văn T để tạm giam thì phát hiện và tạm giữ chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAWE BKS 11H1 5233 (kèm Giấy chứng nhận đăng ký xe).
Tại Kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS, ngày 25-10-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của UBND huyện H kết luận: 01 xe mô tô BKS 98AB-080.43 (đã qua sử dụng) có giá trị là 2.200.000 đồng (hai triệu hai trăm nghìn đồng chẵn).
Tại Kết luận định giá tài sản số 08/KL-ĐGTS, ngày 24-10-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của UBND huyện H kết luận: Giá trị 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAWE BKS 11H1 5233 (màu đen) là 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng chẵn).
Tại bản Cáo trạng số 03/CT-VKSHQ, ngày 12 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố Bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Bị cáo từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng: Không xem xét.
- - Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, miễn án phí cho Bị cáo.
Người bào chữa trình bày luận cứ bào chữa cho Bị cáo, nhất trí với kết luận của Kiểm sát viên về việc truy tố Bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có trình độ văn hóa, là dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức còn hạn chế. Trước khi phạm tội Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, để tuyên hình phạt đối với Bị cáo ở mức thấp nhất của Viện kiểm sát đề nghị. Đồng thời, đề nghị miễn án phí cho Bị cáo.
Tại phiên tòa, Bị cáo thừa nhận vì lo kiếm tiền trả nợ nên Bị cáo đã thực hiện các hành vi lén lút trộm cắp tài sản là hai chiếc xe mô tô BKS 98AB-080.43 và BKS 11H1 5233 với mục đích làm phương tiện đi làm thuê, đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Nay, Bị cáo nhận thấy việc trộm cắp là sai trái và xin được hưởng hình phạt nhẹ nhất. Về họ tên và ngày tháng năm sinh của Bị cáo, của Cha đẻ, Mẹ đẻ của Bị cáo theo Giấy khai sinh do Ủy ban nhân dân xã K cấp là chính xác nhất.
Bị hại chị Sầm Thị Hành xác N1 chiếc xe mô tô BKS 98AB-080.43 là tài sản riêng của Chị mua với người khác và chưa sang tên, sau khi chiếc xe bị Tướng trộm thì Chị đã được nhận lại tài sản. Tại tòa hôm nay, Chị không có yêu cầu Bị cáo bồi thường thiệt hại, đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo vì Bị cáo đã biết ăn năn hối cải.
Các lời khai trong hồ sơ vụ án, bị hại bà Lô Thị N xác nhận Bà đã được nhận lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAWE BKS 11H1 5233 thuộc sở hữu của Bà bị mất, nên không có ý kiến, yêu cầu gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Phan Thị H1 xác nhận, chiếc xe mô tô BKS 98AB-080.43 giấy đăng ký xe mang tên Chị, C1 đã bán cho người khác nhưng chưa sang tên, vì đã bán nên Chị không có ý kiến, yêu cầu về chiếc xe này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng
Bị hại bà Lô Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[2] Về lý lịch, nhân thân Bị cáo
Về nhân thân Bị cáo, khi cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H giải quyết nguồn tin về tội phạm thì xác định Bị cáo có thông tin trên cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và họ tên trong Căn cước công dân là Dương Văn T1, sinh ngày 20-12-2001 (Căn cước công dân số [...]), quê quán: Lương Thượng, N, Bắc Kạn. Tuy nhiên, quá trình điều tra lý lịch, nhân thân của Bị cáo tại nơi sinh, quê quán, hộ khẩu thường trú khi Bị cáo còn nhỏ là xã K (huyện N, tỉnh Bắc Kạn) thì xác định được chính xác họ tên của Bị cáo theo Giấy khai sinh số 04/2001 (do UBND Xã K cấp) là Sằm Văn T, sinh ngày 10-01-2001; nơi sinh, quê quán: xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Các tài liệu, chứng cứ là lời khai của M đẻ Bị cáo, chị em ruột, Cha dượng của Bị cáo xác nhận khi Cha đẻ (Sằm Văn D) của Bị cáo chết thì Mẹ đẻ của Bị cáo (bà S) đi xây dựng gia đình với người đàn ông khác là ông Dương Văn P, trú tại: xóm P, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng (trước đây thuộc xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng) và có đem các con đi theo sống chung cùng ông P từ năm 2014. Vì vậy, Cha dượng (Dương Văn P) đã tự khai báo, đăng ký họ tên Bị cáo là Dương Văn T1, sinh ngày 20-12-2001 có quan hệ là con của ông P vào trong Sổ hộ khẩu gia đình của ông P. Trên cơ sở đó, cơ quan chức năng đã cấp Căn cước công dân cho T là Dương Văn T1, sinh ngày 20-12-2001. Quá trình điều tra vụ án này, trên cơ sở xác nhận của người thân, gia đình Bị cáo, của Ủy ban nhân dân xã K, của Công an xã Đ đều xác nhận về nhân thân của Dương Văn T1 và Sằm Văn T cùng là một con người và họ tên Sằm Văn T, sinh ngày 10-01-2001 (quê quán, nơi sinh: xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn) theo Giấy khai sinh mới là chính xác. Bên cạnh đó, sau khi phát hiện về nhân thân Sằm Văn T có sai sót về họ tên Dương Văn T1, thì Công an xã Đ đã điều chỉnh các thông tin chính xác về công dân Sằm Văn T trên cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và mã số định danh cá nhân của Sằm Văn T sau điều chỉnh vẫn là số [...] (trùng với số căn cước công dân đã cấp cho họ tên Dương Văn T1 trước đó). Như vậy, với các chứng cứ nêu trên đủ căn cứ xác định Bị cáo có tên gọi Sằm Văn T, sinh ngày 10-01-2001, nơi sinh, quê quán: xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn là chính xác.
[3] Xét hành vi của Bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố
Lời thừa nhận hành vi phạm tội của Bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của những người bị hại, lời khai của những người tham gia tố tụng khác, Biên bản xác định hiện trường, Biên bản nhận dạng, Biên bản tạm giữ vật chứng đã thu thập được. Như vậy, đủ căn cứ kết luận bị cáo Sằm Văn T đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe mô tô BKS 98AB-080.43 vào ngày 15-10-2024, trị giá 2.200.000 đồng (thuộc quản lý, sở hữu của chị Sầm Thị H) và trộm 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAWE BKS 11H1 5233 (thuộc sở hữu của bà Lô Thị N) trị giá 7.500.000 đồng vào ngày 19-10-2024 (theo Kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS, ngày 25-10-2024 và Kết luận định giá tài sản số 08/KL-ĐGTS, ngày 24-10-2024). Bị cáo thực hiện các hành vi trộm cắp tài sản độc lập và đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Như vậy, đủ cơ sở kết luận Bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận các chứng cứ do Kiểm sát viên đưa ra.
Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định về “Tội trộm cắp tài sản”
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;...
Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận biết được việc trộm cắp tài sản của người khác là sai trái, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của Bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bị hại, xâm phạm trực tiếp đến trật tự trị an và nếp sống văn minh xã hội, làm ảnh hưởng đến cuộc sống bình yên của nhân dân và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình đã gây ra.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
Bị cáo không có án, tiền sự, trước khi chưa phạm tội Bị cáo có nhân thân tốt. Tuy nhiên, trong vụ án này Bị cáo nhiều lần trộm cắp tài sản và mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm, do đó cần thiết phải áp dụng tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, xét thấy Bị cáo thành khẩn khai báo, Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo; Bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, Bị cáo không có trình độ văn hóa nên hạn chế về nhận thức. Do đó, cần cho Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét việc đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị của Người bào chữa là có căn cứ chấp nhận.
[5] Về quyết định hình phạt
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ được áp dụng đối với Bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy đề nghị mức áp dụng hình phạt đối với Bị cáo của đại diện Viện kiểm sát, Người bào chữa là có căn cứ chấp nhận. Để đảm bảo cải tạo, giáo dục Bị cáo trở thành người công dân lương thiện và làm gương cho người khác, cần quyết định một hình phạt nghiêm minh và cách ly Bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian thì mới có tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, Bị cáo không có thu nhập ổn định, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung.
[6] Về trách nhiệm dân sự
Trong giai đoạn điều tra, các bị hại chị Sầm Thị H, bà Lô Thị N đều đã được trả lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Hội đồng xét xử nhận thấy, các bị hại không có yêu cầu bồi thường thiệt hại là phù hợp với quy định của pháp luật dân sự, cần ghi nhận.
[7] Về vật chứng của vụ án
- Về chiếc xe mô tô BKS 98AB-080.43: Quá trình phát hiện tội phạm và tạm giữ chiếc xe thì xe không có giấy tờ đăng ký, quá trình điều tra đã xác định được chiếc xe này đăng ký chủ xe là chị Phan Thị H1 (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án), tuy nhiên chị H1 khẳng định C1 đã bán chiếc xe này cho một nam thanh niên không rõ họ tên, địa chỉ. Sau đó, anh Vi Văn D1 (trú tại: Đ, L, Bắc Giang) đã bán chiếc xe này cho bị hại chị Sầm Thị H. Việc mua bán xe các lần của các bên đều đã giao nhận tiền đầy đủ, nhưng chưa làm thủ tục sang tên quyền sở hữu xe. Nay, các chủ thể bán chiếc xe cũng không có ý kiến, yêu cầu gì về chiếc xe này, mặc dù chị H1 xác nhận khi Chị bán xe thì chiếc xe vẫn mang tên đăng ký của Chị. Quá trình điều tra đã xác định được bị hại chị Sầm Thị H đã mua chiếc xe này với anh Vi Văn D1, do đó cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô BKS 98AB-080.43 cho chị H theo Biên bản trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 16-01-2025.
- Về chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAWE BKS 11H1 5233: Sau khi xác định được bị hại bà Lô Thị N là chủ sở hữu chiếc xe, cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAWE BKS 11H1 5233 (kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Lô Thị N) cho bà N theo Biên bản trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 14-11-2024.
Do các vật chứng của vụ án nêu trên, Cơ quan cảnh sát điều tra đã quyết định xử lý trả lại cho các bị hại trong giai đoạn điều tra, vì vậy không còn vật chứng để xử lý trong giai đoạn xét xử vụ án.
[8] Về án phí
Bị cáo là người bị kết án, theo quy định phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, xét thấy Bị cáo thuộc hộ nghèo và có Đơn đề nghị miễn nộp tiền án phí. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các điều 9, 12, 15, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, Hội đồng xét xử miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.
[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, Người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố: Bị cáo Sằm Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Sằm Văn T 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày Bị cáo bị bắt tạm giam, là ngày 26-10-2024.
2. Việc bồi thường thiệt hại
Ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu bồi thường thiệt hại của các bị hại Sầm Thị H, Lô Thị N.
3. Việc xử lý vật chứng
- Xác nhận:
+ Bị hại chị Sầm Thị H đã được trả lại chiếc xe mô tô BKS 98AB-080.43, theo Biên bản trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 16-01-2025.
+ Bị hại bà Lô Thị N đã được trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAWE BKS 11H1 5233 (kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Lô Thị N), theo Biên bản trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 14-11-2024.
- Xác nhận: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Phan Thị H1 không có ý kiến, yêu cầu về chiếc xe mô tô BKS 98AB-080.43.
4. Về án phí
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các điều 9, 12, 15, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,
M1 nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Sằm Văn T.
5. Về quyền kháng cáo
Căn cứ vào các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự,
Bị cáo, bị hại chị Sầm Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị hại bà Lô Thị N vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Long Thị Thanh |
Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 07/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sằm Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản
