Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VÕ NHAI

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HS-ST

Ngày 24/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Huyền;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lường Thu Trang và bà Triệu Thị Xuân.

Thư ký phiên toà: Bà Nông Thị Lý, Thư ký Toà án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Vân, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2025/TLST-HS ngày 23/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-HS ngày 10/02/2025, đối với bị cáo:

Trần Văn T, tên gọi khác: không; sinh ngày 04/3/1962, tại Hưng Yên; nơi cư trú: xóm C, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc L, đã chết và bà Văn Thị A; có vợ là Chu Thị L1, có 04 con. Tiền án, tiền sự, nhân thân: không.

Bị cáo tại ngoại, có mặt.

- Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Thái Nguyên; người đại diện theo pháp luật: Bà Bùi Thị S - Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V; người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Hồng S1 - Chức vụ: Phó Trưởng phòng Phòng Nông nghiệp và Môi trường huyện V, có đơn đề nghị xử vắng mặt;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên; Đại diện theo pháp luật: Bà Chu Thị Lệ H - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T; Đại diện theo uỷ quyền: Ông Hứa Văn N - Chức vụ: Công chức địa chính xã, có đơn đề nghị xử vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1956; có mặt
  3. Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1980; có đơn đề nghị xử vắng mặt;
  4. Cùng nơi cư trú: xóm L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.

  5. Bà Chu Thị L1, sinh năm 1962, nơi cư trú: xóm C, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Ông Hoàng Văn T2, sinh năm 1972, vắng mặt
  2. Nơi cư trú: xóm C, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.

  3. Ông Vi Văn V, sinh năm 1963, vắng mặt
  4. Ông Vi Văn S2, sinh năm 1968, vắng mặt
  5. Ông Hoàng Văn T3, sinh năm 1960, vắng mặt
  6. Bà Lê Thị T4, sinh năm 1970, vắng mặt
  7. Cùng nơi cư trú: xóm L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 1990 ông Vi Văn V, sinh năm 1963, ông Vi Văn S2, sinh năm 1968, ông Hoàng Văn T3, sinh năm 1960 và bà Lê Thị T4, sinh năm 1970, đều trú tại: Xóm L, xã T, huyện V cùng nhau đến phát dọn khoảng 0,2 ha diện tích đất rừng ở khu vực B thuộc xóm L, xã T, huyện V để trồng cây lương thực. Đến năm 2017 do không có nhu cầu canh tác nên mọi người đã nhượng lại cho Trần Văn T quản lý sử dụng. Đến năm 2018 Tân phát phát dọn một phần diện tích đất này để trồng keo, tiếp đến khoảng tháng 11 năm 2021 do có nhu cầu trồng cây Bạch đàn để phát triển kinh tế gia đình nên T đã dùng dao đến phát dọn cây bụi, dây leo, cây chuối và mượn 01 chiếc cưa máy của ông Hoàng Văn T2 cắt hạ các cây gỗ gồm: Cây Ngát, Tu va, S3, V1, H1, Lá mản có đường kính gốc trung bình từ 10 - 50 cm. Sau khi cắt phá, số khúc gỗ T để lại toàn bộ tại hiện trường rồi dùng lửa đốt dọn bề mặt rừng, đến khoảng tháng 3 năm 2022, Tân trồng khoảng 3000 cây Bạch đàn trên diện tích đất rừng đã phát dọn. Ngày 05/4/2022 UBND xã T, huyện V kiểm tra phát hiện lập biên bản và chuyển hồ sơ vụ việc đến Hạt kiểm lâm huyện V để giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 27/4/2022, Hạt kiểm lâm huyện V tiến hành kiểm tra, xác định diện tích rừng Trần Văn T đã chặt phá thuộc thửa đất số 203 tờ Bản đồ số 3 Bản đồ đất lâm nghiệp xã T với diện tích là 16.146 m². Toàn bộ hiện trường bị chặt, phá có các gốc cây gỗ bị chặt hạ, có thân cành, một số đã cắt khúc, toàn bộ diện tích đã bị đốt dọn thực bì, trên hiện trường xen lẫn gốc cây gỗ bị chặt hạ có một số cây mọc tái sinh cao từ 01 - 1,5m, một số gốc cây chồi mọc cao từ 20 - 30cm. Toàn bộ diện tích chặt phá đã trồng cây Bạch đàn cao khoảng 20cm. Sau khi đo đếm xác định diện tích Trần Văn T đã chặt phá là 16,146 m², số gốc cây bị chặt là 246 gốc, số khúc gỗ còn tại hiện trường là 337 khúc gỗ có khối lượng là 18,431m³.

Ngày 29/7/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V phối hợp với Hạt kiểm lâm huyện V, Viện nghiên cứu và phát triển nhiệt đới và các Cơ quan chức năng, tiến hành khám nghiệm hiện trường, kiểm kê lâm sản và thu giữ mẫu vật giám định, cụ thể: Hiện trường nơi xảy ra vụ việc thuộc thửa đất số 203 tờ bản đồ số 3, bản đồ địa chính đất lâm nghiệp xã T năm 2006 chỉnh lý năm 2013, có diện tích khai thác chặt phát là 16.146 m² (do ông Nguyễn Văn Tính, sinh năm 1956, trú tại: xóm L, xã T, huyện V quản lý, bảo vệ). Tổng số gốc cây bị chặt là 246 gốc (kích thước mỗi gốc có bảng kê kèm theo). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã thu thập 25 mẫu gỗ từ 25 chủng loại cây của 246 gốc cây trên để làm mẫu vật gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 335 ngày 29/12/2023 của V2 nhiệt đới - Liên hiệp các hội K kết luận:

  • + Vị trí bị chặt phá, đốt thuộc thửa đất 203 tờ bản đồ số 3 bản đồ địa chính xã T năm 2006 chỉnh lý năm 2013 thuộc quy hoạch rừng sản xuất đảm bảo tiêu chí rừng tự nhiên theo quy định tại Điều 4, Mục 1, Chương II, Nghị định 156 ngày 16/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật lâm nghiệp.
  • + Diện tích bị chặt phát, đốt: 13.015 m².
  • + Loại gỗ, nhóm gỗ bị chặt, đốt: Thuộc 22 loài, thuộc các nhóm từ nhóm V đến nhóm VIII, đều là các loài thực vật thông thường, không có tên trong sách đỏ Việt Nam và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về các loài thực vật nguy cấp, quý hiếm, bị đe doạ tuyệt chủng.
  • + Khối lượng gỗ: Do gỗ chặt phá đã được vận chuyển khỏi nơi chặt phá (chỉ còn lại gốc và nhiều thân cây nằm rải rác), hình dạng kích thước và chủng loại gỗ rừng tự nhiên tại các gốc chặt không đồng đều, nên cơ quan giám định chưa đủ cơ sở khoa học xác định khối lượng gỗ bị chặt phá.
  • + Thiệt hại về kinh tế, thời điểm khai thác đối với số lâm sản bị chặt, phát, đốt: Cơ quan giám định chưa đủ hồ sơ, tài liệu để xác định.

Tại văn bản số 159 ngày 11/6/2024 của V2 nhiệt đới - Liên hiệp các hội KH&KT Việt Nam giải thích sự chệnh lệch phần diện tích rừng bị chặt phát, đốt giữa bản kết luận giám định so với diện tích được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường, có nội dung: Vì diện tích chặt, phát, đốt rất rộng, địa hình nhiều khu vực hiểm trở và phương pháp đo của Viện trong buổi khám nghiệm cần phải có thời gian phân tích để ra số liệu chính xác nhất, không thể cho ra kết quả ngay tại hiện trường. Do vậy đoàn khám nghiệm hiện trường đã thống nhất ghi diện tích rừng khu vực bị chặt, phát, đốt theo số liệu đo ban đầu của Hạt kiểm lâm huyện V trước đó có trong hồ sơ vụ việc. Sau khi thu thập dữ liệu và sử lý dữ liệu, kết quả chính xác của từng khu vực được thể hiện trong bản kết luận số 335 ngày 29/12/2023 của V2 Nhiệt đới. Viện khẳng định kết quả giám định là chính xác, việc giám định được thực hiện khách quan, phản ánh đúng thực trạng tại thời điểm khám nghiệm, đúng quy định của pháp luật.

Vật chứng của vụ án:

  • - 01 dao kim loại, cán dài 34cm, lưỡi cong một cạnh sắc dài 19cm, đã qua sử dụng; 221 mẫu gỗ có kích thước không đồng đều, đã khô. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai chờ xử lý.
  • - 246 gốc cây gỗ, Cơ quan điều tra không thu giữ để tại hiện trường.

Về trách nhiệm dân sự trong vụ án: Nguyên đơn dân sự UBND huyện V đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật. Ông Nguyễn Văn T1 yêu cầu bị cáo trồng cây gỗ che phủ lại phần diện tích đất rừng mà T đã phát phá. Trước khi xét xử gia đình bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 7.000.000 đồng vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai để khắc phục hậu quả.

Cáo trạng số 07/CT-VKSVN ngày 23/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Hủy hoại rừng” theo điểm đ khoản 2 Điều 243 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể sau:

  • Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Hủy hoại rừng”;
  • - Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 243, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xử phạt bị cáo Trần Văn T 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo đã nộp số tiền 7.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai để khắc phục hậu quả.
  • - Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 dao kim loại, cán dài 34cm, lưỡi cong một cạnh sắc dài 19cm, đã qua sử dụng; 221 mẫu gỗ có kích thước không đồng đều, đã khô.
  • - Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.

Tại phiên toà sơ thẩm bị cáo nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất và xin được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Theo các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra và diễn biến tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Do cần đất rừng để trồng cây phát triển kinh tế gia đình, trong thời gian từ năm 2018 đến tháng 11 năm 2021 tại lô 2, khoảnh 9C, thửa số 203, tiểu khu A Bản đồ quy hoạch 3 loại rừng xã T, huyện V năm 2006 chỉnh lý năm 2013 quy hoạch là rừng sản xuất, trạng thái là rừng tự nhiên, thuộc tiểu khu B, xóm L, xã T, huyện V, Trần Văn T không được Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép khai thác, chặt phát đã có hành vi dùng dao, cưa máy, chặt, cắt, phá 13.015m² rừng tự nhiên quy hoạch là rừng sản xuất.

[3] Lời khai của bị cáo phù hợp với Biên bản kiểm tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo Trần Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại rừng” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 243 Bộ luật Hình sự.

Điều 243 Bộ luật Hình sự:

“1. Người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác hủy hoại rừng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) ...

đ) rừng sản xuất có diện tích từ 10.000 mét vuông (m²) đến dưới 50.000 mét vuông (m²)”.

[4] Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng, xâm hại đến sự ổn định và bền vững của môi trường sinh thái, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự quản lý và bảo vệ rừng tại địa phương.

[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy: bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 7.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai để khắc phục hậu quả nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bản thân bị cáo và gia đình đã hiến đất để làm đường dự án bê tông hóa nông thôn tại địa phương, hiến đất để xây trường học, được chính quyền địa phương xác nhận nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt chính áp dụng đối với bị cáo: xét thấy bị cáo phạm tội do trình độ nhận thức hạn chế, mục đích để phát triển kinh tế gia đình. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định rõ ràng, phạm tội lần đầu, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra đã nhận thức được sai phạm, hợp tác với cơ quan điều tra và có đơn xin cải tạo tại địa phương được chính quyền địa phương xác nhận. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo để cải tạo tại địa phương, điều này thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước đối với người phạm tội, cũng đủ khả năng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung, phù hợp với quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo.

[7] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo là người cao tuổi, không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì riêng có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Về khối lượng lâm sản, thiệt hại kinh tế, thời điểm bị chặt, phát, đốt: Chưa đủ hồ sơ, tài liệu để xác định; tuy nhiên xác định là có thiệt hại thực tế xảy ra. Nguyên đơn dân sự Ủy ban nhân dân huyện V đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1 đề nghị bị cáo trồng lại diện tích đã đốt phá. Bị cáo đã nộp số tiền 7.000.000 đồng vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai để khắc phục hậu quả nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo.

[9] Về vật chứng của vụ án:

  • - 01 dao kim loại, đã qua sử dụng; 221 mẫu gỗ có kích thước không đồng đều, đã khô là vật chứng vụ án, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[9] Về các vấn đề khác:

Đối với các ông Vi Văn V, Vi Văn S2, Hoàng Văn T3 và bà Lê Thị T4 là người đã nhượng lại Trần Văn T quản lý sử dụng diện tích đất rừng mà các ông bà đã phát phá từ năm 1990. Quá trình điều tra xác định sau khi phát phá đất rừng ông V, ông S2, ông T3 và bà T4 đều không làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với diện tích đất rừng nêu trên và cũng không biết phần diện tích đất rừng đó ngày 20/6/2000 Ủy ban nhân dân huyện V đã cấp giấy chứng nhận cho ông Nguyễn Văn T1 và anh Nguyễn Văn M. Sau khi nhượng lại cho Trần Văn T các ông, bà không biết T sử dụng diện tích đất rừng như thế nào, nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

Đối với anh Hoàng Văn T2 là người đã cho Trần Văn T mượn chiếc cưa máy để Tân cắt phá rừng, quá trình điều tra xác định anh T2 không biết T mượn chiếc cưa để thực hiện hành vi phạm tội, nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

Đối với 337 khúc gỗ có khối lượng 18,431m³ theo biên bản kiểm kê lập ngày 27/4/2022. Tuy nhiên khi tiến hành khám nghiệm hiện trường số gỗ này không còn ở hiện trường, T khai bị người dân đến lấy nhưng T không biết ai, nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

- Bị cáo có đơn đề nghị xin tự nguyện giao toàn bộ hơn 2000 cây Bạch đàn đã gieo trồng trên diện tích đất thuộc lô 2, khoảnh 9c, tiểu khu A thuộc địa phận xóm Làng Tràng, xã T cho Nhà nước để khắc phục hậu quả, theo Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 29/7/2022 thể hiện trên đất có cây Bạch đàn trồng mới cao khoảng 30-50cm. Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này, tuy nhiên do không xác định được số lượng, đặc điểm, tình trạng của số cây trên nên bị cáo được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được giải quyết.

[10]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

[11]. Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai về áp dụng pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Hủy hoại rừng”;
  2. Về hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;
  3. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên giáo dục; giao cho Công an xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên giám sát trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người thi hành án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự. Ghi nhận bị cáo tự nguyện bồi thường cho Ủy ban nhân dân huyện V số tiền 7.000.000 đồng (bẩy triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0002956 ngày 24/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai.
  5. Ủy ban nhân dân huyện V được nhận số tiền trên và có trách nhiệm liên hệ với Chi cục THADS huyện V để được nhận tiền bồi thường.

  6. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  7. - Tịch thu tiêu hủy: 01 dao kim loại, cán dài 34cm, lưỡi cong một cạnh sắc dài 19cm, đã qua sử dụng; 221 mẫu gỗ có kích thước không đồng đều, đã khô.

    Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 16 ngày 20/01/2025 giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai.

  8. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.
  9. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên
  • - VKSND huyện Võ Nhai;
  • - Công an tỉnh Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS huyện Võ Nhai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN về hủy hoại rừng

  • Số bản án: 07/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hủy hoại rừng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 36 tháng tù cho hưởng án treo
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger