|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KONTUM TỈNH KONTUM Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST. Ngày: 21/03/2025. V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KONTUM, TỈNH KONTUM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hồng Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hạnh và ông Đặng Văn Vũ.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Thị Hà Anh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum .
Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Lê Hoàng Mỹ Vy – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum.
Ngày 21/03/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Kon Tum - tỉnh Kon Tum, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 250/2024/TLST-HNGĐ ngày 29-11-2024, về việc: "Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/02/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M. "Vắng mặt".
Địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.
- Bị đơn: Anh Lê Đình P. "Vắng mặt".
Địa chỉ: N khu L, phường L, thành phố K, tỉnh Kon Tum.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì chị Nguyễn Thị M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị với anh Lê Đình P chung sống với nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 06/5/2022 tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ, chồng chị sống hạnh phúc đến cuối năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, dẫn đến cãi nhau. Anh P xúc phạm gia đình chị. Vợ, chồng chị đã không còn chung sống với nhau từ cuối năm 2022 đến nay, mỗi người mỗi nơi, chị ở Thanh Hóa còn anh P ở Kon Tum, việc ai người ấy làm, một mình chị nuôi con. Thời gian đầu xa nhau, anh P góp tiền với chị nuôi con được vài tháng còn lại chị tự làm và nhờ bố, mẹ chị hỗ trợ việc chăm sóc, giúp về kinh tế để chị nuôi con. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị không còn yêu anh P nữa nên chị làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Đình P; Về con chung: Vợ, chồng chị sinh được 01 con chung là Lê Đình Minh P1, sinh ngày 19/5/2022. Khi ly hôn, chị yêu cầu Tòa án giao con cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh P đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ nần chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết; Về án phí DSST: Chị nhận chịu.
Chị M có đơn xin xét xử vắng mặt.
Tại Bản tự khai ngày 04/12/2024 thì bị đơn anh Lê Đình P trình bày: Anh thừa nhận lời trình bày ở trên của chị Nguyễn Thị M về thời gian, địa điểm kết hôn và việc kết hôn tự nguyện là đúng. Sau khi kết hôn và tổ chức đám cưới tại quê chị M ở Thanh Hóa thì chị M sinh con, anh đã chăm sóc khoảng một tháng thì anh về nhà anh ở Kon Tum. Thỉnh thoảng, anh vẫn ra thăm chị M và thăm con nhưng anh, chị chưa về sống chung một nhà. Sau đó, anh có nói chị M đưa con vào ở với anh trong Kon Tum nhưng chị M không vào, anh buồn, nhớ vợ, thương con nên đã uống bia, có chửi chị M và gia đình chị M. Lý do anh chửi là anh nghĩ bố, mẹ chị M không cho chị M vào ở với anh. Nay chị M xin ly hôn với anh, anh không đồng ý. Anh vẫn yêu thương chị M, muốn vợ, chồng đoàn tụ để nuôi dậy các con. Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị M, vì chị M không đồng ý đoàn tụ; Về con chung anh khai, vợ, chồng anh sinh được 01 con chung như chị M trình bày ở trên là đúng, anh đồng ý giao con cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, anh không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ nần chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Về án phí DSST: Chị M nhận chịu, anh đồng ý.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
- Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện tốt, bị đơn thực hiện tương đối tốt các quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên đề nghị xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung vụ án: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị M. Chị M được ly hôn với anh Lê Đình P. Vì hôn nhân đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Về con chung chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn giao con chung cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, anh P không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ, hiện tại chị M đang trực tiếp nuôi con, con dưới 36 tháng tuổi; Về tài sản chung, nợ chung: Không có; Án phí dân sự sơ thẩm chị M phải chịu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự. HĐXX xét thấy, bị đơn có nơi cư trú tại thành phố K nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án thành phố K giải quyết là đúng quy định của pháp luật; Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên xét xử vắng mặt các đương sự như đề nghị của đại diện VKS là đúng pháp luật cần chấp nhận.
[2] Về nội dung vụ án:
- Quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M và chị anh Lê Đình P chung sống với nhau có đăng ký kết hôn, việc kết hôn là tự nguyện, được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Xét nguyên nhân mâu thuẫn:
Chị Nguyễn Thị M xin ly hôn với anh Lê Đình P, anh P đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị M. Hội đồng xét xử xét thấy, trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng chị M và anh P xẩy ra mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống; vợ, chồng không chung sống với nhau từ sau khi kết hôn đến nay, anh P xúc phạm chị M và gia đình chị M, không có sự tôn trọng, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc trong gia đình, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. Hôn nhân của chị M và anh P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, việc chị M yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P, anh P đồng ý là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 19, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình và khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của HĐTPTANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình cần chấp nhận.
- Về con chung: Xét về yêu cầu của chị M được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục, không yêu cầu anh P phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.
HĐXX xét thấy, vợ, chồng chị M và anh P sinh được 01 con chung là Lê Đình Minh P1, sinh ngày 19/5/2022. Theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định thì khi ly hôn vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn nhưng khi Tòa án tiến hành hòa giải thì anh P không đồng ý ly hôn nên không yêu cầu giải quyết về con chung. Sau đó, anh P có đơn xin xét xử vắng mặt, đồng ý ly hôn và giao con cho chị M trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Do đó, Tòa án thấy rằng con chung dưới 36 tháng tuổi và chị M là người trực tiếp chăm sóc con chung từ khi sinh ra đến nay, anh P chỉ đóng góp một phần tiền nuôi con nhưng chị M vẫn chăm sóc con tốt, có sự trợ giúp về việc chăm sóc con chung và kinh tế từ gia đình chị M nên việc giao con chung cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, anh P không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ và đảm bảo mọi quyền lợi của con chưa thành niên phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình cần chấp nhận.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự khai không có.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, chị M phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 144; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Áp dụng khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của HĐTPTANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;
- Điểm a khoản 1 Điều 24; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu về "Ly hôn, tranh chấp nuôi con" của nguyên đơn chị Nguyễn Thị M.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Lê Đình P.
- Về con chung: Giao con chung là Lê Đình Minh P1, sinh ngày 19/5/2022 cho chị Nguyễn Thị M trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, anh Lê Đình P không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.
Anh Lê Đình P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở và không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự khai không có.
2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) chị Nguyễn Thị M phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị M đã nộp theo Biên lai số 0001389 ngày 25/7/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum. Chị Nguyễn Thị M đã nộp đủ tiền án phí DSST.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Vũ Thị Hồng Dung |
Bản án số 07/2025/HNGĐ-ST ngày 21/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KONTUM, TỈNH KONTUM về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 07/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KONTUM, TỈNH KONTUM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
