Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN MÔ-TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HS - ST

Ngày: 20/03/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ - TỈNH NINH BÌNH.

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Cung(Giáo viên) bà Trần Thị Mão.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Minh Thư - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô tham gia phiên toà: Ông Phạm Ngọc Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 20/2025/TLST - HS, ngày 28 tháng 02 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST – HS ngày 06 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:

Phạm Văn T, sinh ngày 13/01/2007 (tính đến ngày phạm tội, bị cáo 17 năm, 09 tháng 22 ngày tuổi), tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: xóm K, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông (Chưa xác định) và bà Phạm Thị L; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giam” kể từ ngày 21/01/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N (có mặt).

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo

Bà Phạm Thị L, sinh năm 1969

Địa chỉ: xóm K, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo

Bà Đoàn Thị H, sinh năm 1988- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N (có mặt).

Người bị hại:

Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1962

Địa chỉ: xóm K, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).

Ông Trần Văn T2, sinh năm 1993 (vắng mặt).

Địa chỉ: xóm K, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình

Ông Trần Trọng T3, sinh năm 1962 (vắng mặt).

Địa chỉ: xóm K, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án

- Bà Phạm Thị L, sinh năm 1969

Địa chỉ: xóm K, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (có mặt).

- Anh Phạm Gia C, sinh năm 1978 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số nhà A, ngách A, phố T, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.

- Cháu Trần Ngọc Hoàng A, sinh năm 2009 (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình

Người đại diện hợp pháp cho cháu Trần Ngọc Hoàng A: Ông Trần Văn T4, sinh năm 1988 (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu Trần Ngọc Hoàng A- bà Đoàn Thị H, Trợ giúp viên pháp lý- Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 17/11/2024, Công an xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình nhận được đơn trình báo của bà Phạm Thị T1, sinh năm 1962 trú tại xóm K, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình về việc: ngày 04/11/2024 gia đình bà bị kẻ gian đột nhập trộm cắp số tiền 6.120.000 đồng trong túi xách để trên giường phòng ngủ. Quá trình điều tra đã xác định Phạm Văn T là người không có việc làm, sống phụ thuộc vào gia đình có biểu hiện nghi vấn. Triệu tập Phạm Văn T để làm việc, tại Cơ quan điều tra Phạm Văn T đã khai nhận hành vi trộm cắp số tiền 6.120.000 đồng của bà Phạm Thị T1, đồng thời T khai nhận ngoài lần trộm cắp tài sản của bà T1 còn hai lần thực hiện hành vi trộm cắp vào các ngày 13/11/2024 và 03/12/2024 cụ thể như sau:

Lần thứ nhất:

Khoảng 18 giờ 04/11/2024, khi Phạm Văn T đang ở nhà chơi cùng với chị Trần Ngọc Hoàng A, sinh ngày 06/07/2009, trú tại tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Do không có tiền tiêu xài, biết được bà Phạm Thị T1, sinh năm 1962, trú tại xóm K, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, là hàng xóm với T già yếu, sống một mình, T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của bà T1. T đi vào trong gian bếp nhà mình, lấy 01 chiếc kéo làm bằng kim loại dài khoảng 20cm, tay cầm được bọc nhựa, bỏ kéo vào trong túi quần phía trước bên phải đang mặc, rồi rủ Hoàng A đi đến nhà bà T1 là bác của Thực chơi (mục đích rủ Hoàng A đi cùng là để mọi người không nghi ngờ). Khi đến cổng nhà bà T1, T nói dối là nhà bà T1 có chó nên bảo Hoàng A đứng ở ngoài đợi để T vào trước. Hoàng A đứng ở ngoài đường đợi còn T đi vào nhà bà T1 quan sát nhà bà T1 thấy không có ai nên T tiến đến cửa phụ bằng gỗ 01 cánh có chốt cài bằng kim loại bên trong, dùng tay phải lấy chiếc kéo đã chuẩn bị sẵn, đưa mũi kéo qua khe cửa để kéo chốt cửa. Sau khi mở cửa thấy trên giường ngủ có một chiếc túi vải màu đỏ, T đã lục tìm bên trong có 01 chiếc túi giả da màu vàng. Thực mở chiếc túi giả da ra, bên trong túi có 01 chiếc túi nilon màu trắng, bên trong có tiền, T cầm túi nilon đựng tiền trên tay và đi ra Hoàng A đang đứng đợi. Khi T đi ra Hoàng A nhìn thấy T cầm túi nilon nên có hỏi thì T nói tiền bà T1 trả cho mẹ của T là bà Phạm Thị L, sinh năm 1969, trú tại xóm K, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Sau đó, T cùng Hoàng A về nhà T, mở túi bóng ra đếm được số tiền là 6.120.000 đồng gồm: 6 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 10 tờ mệnh giá 100.000 đồng, 64 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng, 11 tờ mệnh giá 20.000 đồng, 50 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng. T bỏ tiền vào trong túi quần T đang mặc.

Lần thứ hai:

Khoảng 23 giờ ngày 13/11/2024, T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản tại phủ G thuộc xóm Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, vì T biết phủ có để tiền công đức và vào buổi tối không có ai trông coi. T đã mang theo 01 chiếc kéo bằng kim loại (đây là chiếc kéo T sử dụng đột nhập vào nhà bà T1 để trộm cắp tiền) và 01 túi nilon để trong túi quần phía trước bên phải đang mặc, rồi một mình đi bộ từ nhà đến phủ G. Khi đến nơi, quan sát phía trong phủ không có ai trông coi nên T đi đến vị trí cửa phụ bên trái thấy có then cài bên trong, T lấy chiếc kéo cho lưỡi kéo qua khe cửa rồi đẩy chốt cài cửa sang ngang. Khi đi vào trong phủ, thấy trên mặt bàn gỗ gần vị trí ban thờ có 01 hòm công đức mặt ốp kính, viền bằng nhôm, bên trong hòm công đức có tiền, T bê hòm công đức đi ra vị trí phía sau gian bếp của phủ, dùng mũi kéo cho vào khe đút tiền hòm công đức, cậy vỡ mảnh kính phía trên, bên trong có nhiều tờ tiền mệnh giá khác nhau (nhiều tờ mệnh giá 1.000 đồng, 2.000 đồng, 5.000 đồng và 02 tờ 100.000 đồng, 5 tờ 50.000 đồng). Sau đó, T lấy hết tiền phía bên trong và cho vào túi nilon đã chuẩn bị trước, rồi đi bộ về nhà ngủ. Đến khoảng 15 giờ ngày 14/11/2024, chị Trần Ngọc Hoàng A đến nhà T chơi, T cùng Hoàng A bắt xe ô tô khách đến thành phố N chơi. Khi đến bến xe, T nói dối Hoàng A là T đi vệ sinh, Hoàng A không nghi ngờ gì nên đứng đợi Thực tại bến xe. Sau đó, T cầm theo túi nilon đựng tiền trộm cắp tại phủ G, đi đến ngân hàng V, địa chỉ: A T, phố A, phường V, thành phố N, tỉnh Ninh Bình đổi thành tiền chẵn được 3.120.000 đồng (Ba triệu một trăm hai mươi nghìn đồng). Sau khi đổi được tiền, T quay lại chỗ Hoàng A đợi, nói T có 3.120.000 đồng và rủ Hoàng A đi chơi, nhưng Hoàng A có việc nên đi về trước. Sau đó, T đã sử dụng hết số tiền 3.120.000 đồng để tiêu sài cá nhân.

Lần thứ ba:

Khoảng 11 giờ ngày 03/12/2024, khi T cùng chị Trần Ngọc Hoàng A đi ngang qua nghĩa trang K thuộc xóm K, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, T thấy 01 xe mô tô BKS: 36G1 - 12064, nhãn hiệu Honda Wave S màu đỏ của ông Trần Văn T2, sinh năm 1993, trú tại xóm K, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, dựng trên đường tại nghĩa trang K, chìa khóa vẫn đang cắm tại ổ khóa xe mô tô. Thực quan sát xung quanh thấy không có ai, nên T và Hoàng A nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô trên. Sau đó, T lên xe mô tô BKS: 36G1 - 12064, nổ máy chở Hoàng A phía sau xe đi đến cánh đồng xóm Khê T5 giấu. Đến sáng ngày 04/12/2024, T cùng Hoàng A đi xe mô tô BKS: 36G1 - 12064 trộm cắp được, đi đến bến xe N để bán chiếc xe mô tô trên. Sau đó, T và Hoàng A gặp ông Phạm Gia C, sinh năm 1978, trú tại phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Thực nói dối ông C do không có nhu cầu sử dụng xe mô tô trên nên T đang tìm người để bán. Ông C không nghi ngờ gì nên đã mua chiếc xe mô tô BKS: 36G1 - 12064 với giá 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng). Sau khi bán được xe, T và Hoàng A đã tiêu xài hết số tiền trên.

Ngày 15 tháng 01 năm 2025, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y xác định giá trị của 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S màu đỏ, mang BKS: 36G1 – 12064 do bị cáo chiếm đoạt trị giá là 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).

Tại bản cáo trạng số: 21/CT- VKS ngày 26/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 91; Điều 98; Điều 101 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 119; khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên xử phạt Phạm Văn Thực từ 06 (Sáu) tháng tù đến 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 21/01/2025.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho người bị hại, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án (Anh Phạm Gia C) không có yêu cầu đề nghị gì về phần bồi thường nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 kéo bằng kim loại kích thước (22,5x10,5)cm, tay cầm được bọc nhựa, cũ đã qua sử dụng.

Người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và chính sách pháp luật của Nhà nước về người chưa thành niên phạm tội đối với bị cáo. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến bào chữa, tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã ra các quết định tố tụng; thực hiện đúng, đầy đủ các hành vi tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; người tham gia tố tụng cung cấp đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 04/11/2024 đến ngày 03/12/2024, Phạm Văn T đã 03 lần trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Ngày 04/11/2024, Phạm Văn Thực lợi D sơ hở trong việc quản lý tài sản đã lén lút trộm cắp số tiền 6.120.000 đồng của bà Phạm Thị T1, sinh năm 1962, trú tại xóm K, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình để trong túi xách tại nhà ở của bà Phạm Thị T1 thuộc xóm K, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình;

Lần thứ hai: Ngày 13/11/2024, lợi dụng trong việc quản lý tài sản của phủ Giếng Rồng tại xóm K, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, Phạm Văn T lén lút đột nhập vào phủ Giếng Rồng trộm cắp số tiền 3.120.000 đồng trong hòm công đức;

Lần thứ ba: Ngày 03/12/2024 tại khu vực nghĩa trang K thuộc xóm K, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của ông Trần Văn T2, sinh năm 1993, trú tại xóm K, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, Phạm Văn T đã cùng Trần Ngọc Hoàng A đã lén lút trộm cắp 01 xe mô tô BKS: 36G1 - 12064, nhãn hiệu Honda Wave S màu đỏ trộm cắp có giá trị 3.500.000 đồng.

Theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tội trộm cắp tài sản thì

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

... 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3] Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội hai lần trở lên nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Hình phạt: Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo xét thấy: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng tội danh, loại, mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo phạm tội nhiều lần, bản thân hay đi lang thang, gia đình không quản lý giám sát được nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giám sát giáo dục, khi lượng hình cũng cần xem xét bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả và bị cáo là người chưa thành niên để đưa ra mức hình phạt phù hợp tạo điều kiện để bị cáo cải tạo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo không có công ăn việc làm, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Cơ quan công an đã thu giữ tài sản bị cáo chiếm đoạt gồm 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, trả cho ông Trần Văn T2; 01 (Một) túi xách màu vàng, 01 (Một) túi vải màu đỏ vàng và gia đình bị cáo đã trả cho bà T1 số tiền bị cáo chiếm đoạt 6.120.000 đồng; gia đình bị cáo đã trả cho ông Trần Trọng Tích S tiền 3.120.000 đồng T chiếm đoạt tại phủ Giếng Rồng. Những người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ (anh Phạm Gia C1) không có yêu cầu đề nghị gì về phần bồi thường thiệt hại nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Trong vụ án có cháu Trần Ngọc Hoàng A có hành vi cùng Phạm Văn T trộm cắp xe mô tô BKS: 36G - 120.64 có giá trị 3.500.000 đồng. Khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cháu Trần Ngọc Hoàng A mới 15 tuổi 5 tháng chưa đủ 16 tuổi nên không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản. Anh Phạm Gia C, là người mua xe mô tô BKS: 36G - 120.64 của Phạm Văn T, anh C không biết chiếc xe mô tô BKS: 36G - 120.64 là tài sản do T trộm cắp mà có nên anh C không vi phạm pháp luật.

[7] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ 01 kéo bằng kim loại kích thước (22,5x10,5)cm, tay cầm được bọc nhựa, cũ đã qua sử dụng là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 91; Điều 98; Điều 101 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 119; Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên.
    1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    2. Xử phạt Phạm Văn T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 21/01/2025.
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 kéo bằng kim loại kích thước (22,5x10,5)cm, tay cầm được bọc nhựa, cũ đã qua sử dụng.

    (Cụ thể chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27 tháng 02 năm 2025, giữa Công an huyện Y và Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Mô).

  3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Phạm Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án”.

Nơi nhận:

  • - Toà án ND, VKSND tỉnh Ninh Bình.
  • - VKSND- Huyện YM.
  • - Bị cáo; Người TGTT
  • - Cơ quan THAHS, CATNB.
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà

(Đã ký)

Nguyễn Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HS - ST ngày 20/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ - TỈNH NINH BÌNH về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 07/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ - TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger