TÒA ÁN NHÂN DÂN VIỆT NAM THÀNH PHỐ GÒ CÔNG Tự do - Hạnh phúc TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2025/HS-ST
Ngày: 19/03/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Hải;
- Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Võ Thành Dương
- Ông Nguyễn Hùng Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Đàm Viễn Khương - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân thành phố G, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Dương Hoài T, sinh ngày 14 tháng 3 năm 2004, tại: thành phố G, tỉnh Tiền Giang; Căn cước công dân: [...], ngày cấp: 24/4/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội. Nơi đăng ký thường trú: Khu phố G, phường L, thành phố G tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Làm hồ; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Dương Thanh H, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị Ngọc Y, sinh năm 1980; Bị cáo sống như vợ chồng với Nguyễn Thị Thanh N có 01 con chung sinh 2024.
Ngày 27/6/2024, bị cáo bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện G ra quyết định xử phạt vi phạm hành số tiền 6.500.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng có mang theo các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc công cụ, đồ vật, phương tiện khác có khả năng sát thương; theo Quyết định số 623/QĐ-XPHC.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/11/2024; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh T - Phân trại tạm giam khu vực thành phố G, tỉnh Tiền Giang, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Cháu Phạm Thị Kim T1, sinh ngày 17/6/2008 (Xin vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện theo pháp luật của cháu T1 là chị Phạm Thị Kim H1, sinh năm 1988 (Có mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại: Chị Trần Thị Ngọc G – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T (Có mặt);
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Cháu Nguyễn Ngọc Minh Q, sinh ngày 14/11/2007 (Có mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang
Người đại diện theo pháp luật của cháu Q là chị Võ Thị M, sinh năm 1978 (Có mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
- Anh Trần Thanh T2, sinh năm 2004 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Khu phố K, phường L, thành phố G, tỉnh Tiền Giang.
- Chị Nguyễn Thị Ngọc Y, sinh năm 1980 (Có mặt);
Địa chỉ: Khu phố G, phường L, thành phố G, tỉnh Tiền Giang.
- Cháu Diệp Kim Ngân B, sinh ngày 28/9/2010 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang
Người giám hộ của cháu B là Phạm Hoài N1, sinh năm 1998 – Bí thư đoàn thanh niên Phường L, thành phố G, tỉnh Tiền Giang (Vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 3/2024, bị cáo quen biết với Phạm Thị Kim T1, sinh ngày 17/6/2008 thông qua mạng xã hội “Facebook”. Nguyễn Ngọc Minh Q cũng quen biết với T1 qua mạng xã hội “Facebook”.
Khoảng 21 giờ ngày 09/4/2024, bị cáo chở Q bằng xe mô tô hai bánh đến khu vực ngã ba T thuộc huyện G, tỉnh Tiền Giang để rước T1 và D Kim Ngân B rồi đến nhà Trần Thanh T2 tọa lạc khu phố K, phường L, thành phố G, tỉnh Tiền Giang để uống rượu cùng T2 và khoảng 03-04 người khác. Cả nhóm uống rượu đến khoảng 03 giờ sáng ngày 10/4/2024 thì bị cáo, Q đưa B về lại khu vực ngã 3 T; Tuyền ở đợi tại cổng khu phố G, phường L. Sau khi đưa B về thì bị cáo, Q quay lại rước T1; Bị cáo bàn bạc với Q về việc sẽ đưa T1 về nhà của bị cáo tọa lạc tại khu phố G, phường L, thành phố G, tỉnh Tiền Giang rồi cùng quan hệ tình dục với T1 thì Q đồng ý.
Tại nhà của bị cáo, bị cáo dẫn Q, T1 cùng vào phòng ngủ của bị cáo, khép cửa phòng lại và mở đèn ngủ. Cả ba nằm trên một bộ ván làm bằng xi măng, lót gạch men, có trải nệm; Bị cáo nằm giữa, Q nằm sát tường bên trái của bị cáo, T1 thì nằm ngoài bên phải của bị cáo. Lúc này, bị cáo dùng tay sờ ngực của T1, sau đó cởi áo ngực, hôn ngực T1 rồi cởi quần của T1 ra; T1 nằm trong tư thế ngửa, bị cáo nằm đè lên người Tuyền trong tư thế đối diện rồi dùng dương vật của bị cáo đưa vào âm đạo của T1 để thực hiện hành vi quan hệ tình dục với T1; quan hệ được khoảng 15 phút thì bị cáo xuất tinh ra ngoài lên vùng bụng của T1.
Sau khi bị cáo quan hệ tình dục xong thì ra hiệu cho Q tiếp tục quan hệ tình dục với T1 rồi bị cáo đi ra ngoài. Quí cởi quần của Q ra (lúc này T1 vẫn chưa mặc lại quần và vẫn nằm trong tư thế ngửa), Q cầm dương vật đưa vào âm đạo của T1 rồi bắt đầu thực hiện hành vi quan hệ tình dục với T1. Trong lúc Quí đang quan hệ tình dục với T1 thì bị cáo đi vào, dùng điện thoại di động quay lại diễn biến sự việc. Quí quan hệ được khoảng 15 phút thì xuất tinh lên vùng bụng của T1. Sau đó cả ba nằm một lúc thì bị cáo và Q chở T1 về khu vực ngã ba T để T1 về nhà.
Đến ngày 05/6/2024, chị Phạm Thị Kim H1 là mẹ ruột của T1 đến Công an phường L, thành phố G hành vi của bị cáo và Nguyễn Ngọc Minh Q.
Theo Kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 26-2024/KLTDTE-TTPY ngày 11/6/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh T đối với Phạm Thị Kim T1 như sau:
1. Các kết quả chính:
- Kết quả khám giám định: Màng trinh hình vành khăn, dãn rộng, vết rách cũ vị trí 05 giờ, 09 giờ.
- Kết quả khám chuyên khoa: Màng trinh dãn rộng, vị trí 09 giờ vết rách cũ chưa tới chân màng trinh.
- Kết quả cận lâm sàng:
- + Kết quả thử thai: Âm tính.
- + Tìm không thấy xác tinh trùng.
- + Siêu âm chưa thấy bất thường.
2. Kết luận:
- Sau khi có kết quả khám lâm sàng, cận lâm sàng Phạm Thị Kim T1, ngày 11/6/2024, kết luận như sau:
- + Màng trinh hình vành khăn, dãn rộng, vết rách cũ vị trí 05 giờ, 09 giờ.
- + Tìm không thấy xác tinh trùng.
Tại bản cáo trạng số: 07/CT-VKSGC ngày 24/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Dương Hoài T về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 1 Điều 145 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Dương Hoài T phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
- Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 145; Điều 38; Điều 50; điểm b,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Dương Hoài T từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, thời hạn tù tính từ ngày 27/11/2024.
Đối với Nguyễn Ngọc Minh Q đã thực hiện hành vi giao cấu với Phạm Thị Kim T1 vào ngày 10/4/2024, nhưng tại thời điểm này thì Q được 16 tuổi 04 tháng 27 ngày, nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại Điều 145 Bộ luật Hình sự. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố G không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Q và không quy kết đối với Dương Hoài T về tình tiết “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” là có cơ sở.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Dương Hoài T và bà Nguyễn Thị Ngọc Y tự nguyện bồi thường cho cháu Phạm Thị Kim T1 số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng); Ghi nhận sự tự nguyện của bà Võ Thị M tự nguyện bồi thường cho cháu Phạm Thị Kim T1 số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), mỗi tháng trả 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
- Về vật chứng đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước điện thoại Iphone X, màu trắng, số IMEI 354846094696406 (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28 tháng 02 năm 2025).
- Về án phí: Bị cáo và bà Nguyễn Thị Ngọc Y và bà Võ Thị M phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trình bày:
- + Không ý kiến gì về việc Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 1 Điều 145 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của đương sự về việc tự nguyện thoả thuận bồi thường của các đương sự. Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo:
Bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố G, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh T2, cháu B, đại diện theo pháp luật của cháu B vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt trên không ảnh hưởng đến việc xét xử và vẫn đảm bảo quyền lợi hợp pháp của những người này. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt các đương sự trên.
[2]. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo Dương Hoài T thừa nhận vào ngày 10/4/2024, tại nhà của bị cáo tọa lạc tại khu phố G, phường L, thành phố G, tỉnh Tiền Giang, bị cáo Dương Hoài T là người đủ 18 tuổi trở lên và Nguyễn Ngọc Minh Q là người chưa đủ 18 tuổi đã thực hiện hành vi giao cấu với Phạm Thị Kim T1 khi T1 được 15 tuổi 09 tháng 24 ngày thì bị phát hiện.
Lời khai nhận trên của bị cáo Dương Hoài T đã phù hợp với vật chứng thu giữ, biên bản khám nghiệm của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G, Kết luận giám định số: 26-2024/KLTDTE-TTPY ngày 11/6/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh T, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đồng thời khớp với các lời khai trước đây của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Đối với Nguyễn Ngọc Minh Q đã thực hiện hành vi giao cấu với cháu Phạm Thị Kim T1 vào ngày 10/4/2024, nhưng tại thời điểm này thì Q được 16 tuổi 04 tháng 27 ngày, nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại Điều 145 Bộ luật Hình sự. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố G không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Q và không quy kết đối với Dương Hoài T về tình tiết “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” là có cơ sở. Nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3]. Với các chứng cứ tài liệu đã nêu trên, Tòa án có đầy đủ căn cứ để kết luận bị cáo Dương Hoài T đã có hành vi quan hệ tình dục với cháu T1 khi mới 15 tuổi 09 tháng 24 ngày nên hành vi trên của bị cáo đã phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 1 Điều 145 Bộ luật Hình sự.
[4]. Về động cơ, mục đích, tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến danh dự, nhân phẩm sức khỏe và sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của bị hại được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi trên là bị nghiêm cấm nhưng vì để thỏa mãn nhu cầu bản thân mà bị cáo đã bất chấp vi phạm pháp luật cho nên bị cáo phải bị xử lý bằng pháp luật hình sự, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5]. Xét về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
[6]. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra bị cáo Dương Hoài T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tác động gia đình bồi thường xong cho bị hại, bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7]. Về tình tiết tăng nặng: Không có.
[8]. Trên cơ sở đánh giá nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo Dương Hoài T là nguy hiểm cho xã hội, tình hình xâm phạm tình dục đối với người dưới 16 tuổi có chiều hướng gia tăng, gây ảnh hưởng đến tâm lý và sự phát triển thể chất cũng như tinh thần của bị hai. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục răn đe và phòng chống tội phạm, đồng thời cho bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội.
[9]. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Dương Hoài T và bà Nguyễn Thị Ngọc Y tự nguyện bồi thường cho cháu Phạm Thị Kim T1 số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng); Ghi nhận sự tự nguyện của bà Võ Thị M tự nguyện bồi thường cho cháu Phạm Thị Kim T1 số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), mỗi tháng trả 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
[10]. Về vật chứng: tịch thu sung công quỹ nhà nước điện thoại Iphone X, màu trắng, số IMEI 354846094696406 (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28 tháng 02 năm 2025).
[11]. Về án phí:
- + Bị cáo Dương Hoài T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- + Bị cáo, bà Nguyễn Thị Ngọc Y và bà Võ Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
[12]. Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại là có căn cứ nên được chấp nhận.
[13]. Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 145, Điều 38; Điều 50, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
- - Điều 136, Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016;
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Hoài T phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Dương Hoài T 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/11/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Dương Hoài T và bà Nguyễn Thị Ngọc Y tự nguyện liên đới bồi thường cho cháu Phạm Thị Kim T1 số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng); Ghi nhận sự tự nguyện của bà Võ Thị M tự nguyện bồi thường cho cháu Phạm Thị Kim T1 số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng), mỗi tháng trả 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
- Về án phí:
- + Buộc bị cáo Dương Hoài T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- + Buộc bà Võ Thị M chịu 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- + Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc Y và bị cáo Dương Hoài T liên đới chịu 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Ngọc Hải |
Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG về hình sự: giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Số bản án: 07/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Truy tố tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuôit
