|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 19 - 3 - 2025
V/v: Anh Nguyễn Văn Phòng xin ly hôn chị Nguyễn Thị Hiền.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Hoàng và ông Trần Đăng Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hoài Thu, Kiểm sát viên.
Ngày 19-3-2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 22/2025/TLST-HNGĐ ngày 12-02-2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04-3-2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1984; nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình; địa chỉ hiện nay: 702/20/3, Đường C, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 06-02-2025 và trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Văn P trình bày:
Anh và chị Nguyễn Thị H tự nguyện tìm hiểu, tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn ngày 06-01-2004 tại UBND xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt đến mức không thể chung sống cùng nhau được nữa. Năm 2018 chị H đưa con bỏ về nhà ngoại ở, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, chấm dứt quan hệ tình cảm, không còn liên hệ gì với nhau nữa. Nay, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị H.
Anh và chị Nguyễn Thị H có hai con chung là Nguyễn Thị Ngọc B, sinh ngày 10-11-2006 và Nguyễn Đăng D, sinh ngày 25-6-2012 hiện đang ở với chị H. Ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao cho chị H trực tiếp nuôi con Nguyễn Đăng D, anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con D số tiền 2.000.000 đồng/01 tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 4-2025 đến khi con D đủ 18 tuổi. Đối với con B hiện đã đủ 18 tuổi, khỏe mạnh, có khả năng tự lập nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng và cấp dưỡng.
Anh và chị Nguyễn Thị H không có tài sản chung, không vay và không cho ai vay nợ chung, anh không đề nghị Tòa án giải quyết về chia tài sản chung.
Anh đề nghị Tòa án không tiến hành thủ tục hòa giải và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh.
* Tại các văn bản trình bày ý kiến ngày 19-02-2025 và ngày 04-3-2025 và Đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, bị đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Về thời gian, điều kiện, thủ tục kết hôn, quá trình chung sống và thời điểm mâu thuẫn đúng như anh P trình bày. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, lối sống, anh P thiếu quan tâm đến gia đình nên thường xuyên xảy ra va chạm, cãi cọ. Mâu thuẫn kéo dài dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Do cảm thấy cuộc sống quá ngột ngạt, không thể tiếp tục chung sống cùng anh P được nữa nên từ năm 2018 chị đã đưa con về sống với bố mẹ đẻ. Vợ chồng ly thân từ đó đến nay, chấm dứt mọi quan hệ tình cảm, không liên hệ gì với nhau nữa. Nay anh P có đơn xin ly hôn chị, chị xác định không còn tình cảm với anh P, nếu có tiếp tục chung sống cũng không có hạnh phúc nên đề nghị Toà án căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết cho anh P được ly hôn chị.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Thị Ngọc B, sinh ngày 10-11-2006 và Nguyễn Đăng D, sinh ngày 25-6-2012 hiện đều đang ở với chị. Ly hôn, con B đã lớn, trưởng thành, có khả năng tự lập nên không đề nghị Toà án giải quyết; con D chưa thành niên nên đề nghị Toà án giao cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Chị đồng ý với mức anh P tự nguyện cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 đồng/01 tháng. Thời gian cấp dưỡng tính từ khi giải quyết ly hôn đến khi con D đủ 18 tuổi.
Về tài sản: Chị và anh P không có tài sản chung, không có nợ chung, không đề nghị Toà án giải quyết.
Về địa chỉ cư trú của chị: Hiện nay, chị đang cư trú tại địa chỉ 7, Đường C, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Chị đồng ý lựa chọn Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình là Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ án ly hôn giữa anh P và chị.
Do công việc của chị bận, con cái còn nhỏ, đang trong độ tuổi đi học, chị đang ở xa nên đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị.
* Tại Văn biên bản ghi ý kiến đề ngày 04-3-2025, cháu Nguyễn Đăng D trình bày:
Bố đẻ cháu là Nguyễn Văn P, mẹ cháu là Nguyễn Thị H. Hiện cháu đang ở với mẹ. Nếu Tòa án giải quyết cho bố mẹ cháu ly hôn, nguyện vọng của cháu là xin được ở cùng mẹ.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự, Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì. Nguyên đơn, bị đơn đều đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, các Điều 24, 27 Nghị quyết 326 ngày 30-12-2016 của Quốc hội: Xử cho anh P được ly hôn chị H. Cháu B đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Giao con chung Nguyễn Đăng D, sinh ngày 25-6-2012 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh P cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 đồng/01 tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 4-2025 đến khi con D đủ 18 tuổi. Không đặt ra giải quyết về tài sản. Anh P tự nguyện nộp cả 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và phải nộp án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1.1] Anh Nguyễn Văn P khởi kiện xin ly hôn chị Nguyễn Thị H, chị H có nơi thường trú tại xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
[1.2] Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Văn P đề nghị Tòa án không tiến hành thủ tục hòa giải, anh P và chị H đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, do đó, Tòa án không tiến hành thủ tục hòa giải, tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo trình tự vắng mặt chị H và tiến hành xét xử vụ án trong trường hợp vắng mặt anh P, chị H theo quy định tại khoản 4 Điều 207, các Điều 208, 209, 210, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn P và chị Nguyễn Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại UBND xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình theo Giấy chứng nhận kết hôn số 01 ngày 06-01-2004, là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống giữa anh chị đã xảy ra mâu thuẫn. Về nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn chủ yếu là do bất đồng về quan điểm sống kéo dài dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay, chấm dứt liên lạc và quan hệ tình cảm. Nay anh P và chị H đều xác định tình cảm không còn, anh P xin ly hôn, chị H đề nghị Toà án xử cho anh P được ly hôn chị. Xét thấy, mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, HĐXX xử cho ly hôn giữa anh P và chị H.
[2.2] Về nuôi con chung: Anh Nguyễn Văn P và chị Nguyễn Thị H có hai con chung là Nguyễn Thị Ngọc B, sinh ngày 10-11-2006 và Nguyễn Đăng D, sinh ngày 25-6-2012. Ly hôn, con B đã lớn, trưởng thành, có khả năng tự lập nên anh chị không đề nghị Toà án giải quyết về nuôi dưỡng và cấp dưỡng. Đối với con D chưa thành niên, anh P đề nghị giao con cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 đồng/01 tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 4-2025 đến khi con D đủ 18 tuổi. Chị H đồng ý với quan điểm của anh P về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, thỏa thuận của anh chị về việc nuôi con chung là tự nguyện, phù hợp với nguyện vọng của con chung, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đề nghị của anh P, chị H, giao con chung Nguyễn Đăng D cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh P cấp dưỡng cho con 2.000.000 đồng/01 tháng là phù hợp pháp luật.
[2.3] Về chia tài sản chung: Anh Nguyễn Văn P và chị Nguyễn Thị H thống nhất trình bày anh chị không có tài sản chung, không có nghĩa vụ chung về tài sản, anh chị không yêu cầu, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[2.4] Về án phí: Xét việc anh Nguyễn Văn P tự nguyện nộp cả 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm là tự nguyện, Hội đồng xét xử chấp nhận. Anh P phải nộp 300.000 đồng án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng.
[2.5] Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn P, chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 và các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn P và chị Nguyễn Thị H.
-
Về nuôi con chung:
- Giao cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Đăng D, sinh ngày 25-6-2012. Anh Nguyễn Văn P phải cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng)/01 tháng. Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 4-2025 đến khi con D đủ 18 tuổi.
- Anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Anh P, H có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng cho con khi cần thiết.
- Về chia tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Anh Nguyễn Văn P tự nguyện nộp cả 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và phải nộp 300.000 đồng án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng. Chuyển số tiền 300.000 đồng anh P đã nộp tạm ứng tại Biên lai số 0000599 đề ngày 12-02-2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình sang thành án phí.
- Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn P, chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hương |
6
Bản án số 07/2025/HNGĐ-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 07/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Nguyễn Văn P cin ly hôn chị Nguyễn Thị H, đề nghị Toà án giải quyết về nuôi con chung
