Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỒNG PHÚ

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 07/2025/HS-ST

Ngày: 18/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Sơn
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Tư
  • Ông Nguyễn Viết Xứng

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Điểu Dân K sinh năm 1997, tại: Bình Phước, giới tính: Nam; Dân tộc: S'Tiêng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Tin lành; Chức vụ (Đoàn thể, đảng phái): không; Nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Điểu K1, (đã chết) và bà Thị T, sinh năm 1970; Nơi cư trú: Ấp C, xã Q, thị xã C, tỉnh Bình Phước; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 06/11/2024 cho đến nay (Có mặt tại phiên tòa).

* Những người tham gia tố tụng:

  • - Bị hại: Điểu Diên, sinh năm 2000. Địa chỉ: Khu phố Đ, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Phước. (Có mặt)
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    • + Điểu T1, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp X, xã P, thị xã C, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt)
    • + Thị T, sinh năm 1970. Địa chỉ: Ấp C, xã Q, thị xã C, tỉnh Bình Phước. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 09/7/2024, Điểu D K cùng Điểu D1, Điểu T1 đi cưa cây cao su thuê tại ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, K cùng D1, T1 đang ngồi ăn cơm thì K và D1 xảy ra mâu thuẫn. Diên dùng chân phải đạp vào mặt K làm K ngã ngửa ra sau, được mọi người can ngăn nên K bỏ đi nơi khác. Đến khoảng 01 giờ ngày 10/7/2024, do vẫn bực tức nên K đi lại chòi tạm nơi D1, T1 đang ngủ lấy đoạn cây gỗ dài 1,1 mét (m) ở bên cạnh chòi đánh 01 cái vào người T1, do bị đánh bất ngờ nên T1 bỏ chạy, K tiếp tục cầm cây gỗ đi đến đánh nhiều cái vào người D1 gây thương tích thì D1 bỏ chạy ra ngoài. Sau đó, D1 và T1 được người dân đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế thị xã B, tỉnh Bình Phước. Ngày 11/7/2024, D1 và T1 đến Cơ quan Công an trình báo. Quá trình điều tra, Điểu Dân K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Căn cứ kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 360 ngày 15/8/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B, kết luận: Tỷ lệ % tổn thương cơ thể của Điểu D1 tại thời điểm giám định là 11%.

Căn cứ kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 361 ngày 15/8/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B, kết luận: Tỷ lệ % tổn thương cơ thể của Điểu T1 tại thời điểm giám định là 03%.

Tại bản Cáo trạng số: 10/CT-VKSĐP ngày 23/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú truy tố bị cáo Điểu Dân K về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo như Cáo trạng đã đề cập và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Điểu Dân K về phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 38, 50, 65 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Điểu Dân K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 4 đến 5 năm.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú về tội danh; xin giảm nhẹ so với mức Viện kiểm sát đề nghị.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại Điểu D1 tại phiên tòa xin bãi nại, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và yêu cầu bị cáo bồi thường thêm 15.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi, quyết định của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với khai của bị hại, người liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Khoảng 01 giờ ngày 10/7/2024, Điểu D K có hành vi dùng khúc gỗ dài 1,1m, đánh vào người của Điểu D1 gây thương tích 11% tại ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo dùng 01 khúc gỗ có hình trụ tròn, có chiều dài 1,1m, chiều rộng 5cm, là hung khí nguy hiểm, đánh bị hại gây tổn thương cơ thể cho bị hại 11%, là tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú đối với bị cáo Điểu Dân K là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Bị cáo biết rằng việc dùng khúc gỗ đánh vào người bị hại sẽ gây thiệt hại đến sức khoẻ của họ. Nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi, thể hiện sự coi thường pháp luật. Hành vi mà bị cáo thực hiện là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khoẻ của người khác, là khách thể quan trọng được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự an ninh tại địa phương.

[4] Hành vi của bị cáo là bộc phát, nguyên nhân là do một phần lỗi của bị hại khi bị hại dùng chân đạp vào mặt của bị cáo tại khi bị cáo đang ăn cơm, làm bị cáo ngã ngửa ra sau, dẫn đến bị cáo không làm chủ được bản thân, do đó bị cáo đã dùng cây đánh vào người bị hại.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, việc gây thương tích cho bị hại là do một phần lỗi của bị hại; sau khi xảy ra vụ việc bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại; bị hại có đơn xin đề nghị không khởi tố bị cáo, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Bị cáo thuộc dân tộc thiểu số, là lao động chính trong gia đình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt.

Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, được bị hại bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt, nên xét không cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mà chỉ cần giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để quản lý, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

[5] Đối với ông Điểu T1 bị thương tích 3%, quá trình điều tra Điểu T1 đã làm đơn bãi nại, không yêu cầu khởi tố đối với bị cáo Điểu Dân K, Viện kiểm sát đề nghị không xem xét. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại Điểu Dân 70.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị hại, Điểu D1 yêu cầu bị cáo bồi thường thêm số tiền 15.000.000 đồng và bị cáo đồng ý. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận về bồi thường thiệt hại như trên là có cơ sở.

[7] Vật xử lý vật chứng: Quá trình điều tra đã thu giữ 01 (một) đoạn cây gỗ dài 1,1m, đây là vật không có giá trị sử dụng nên cần áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy.

[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đề nghị về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị mức hình phạt như trên là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Điểu Dân K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 38, 50, 65 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Điểu D K 02 (Hai) năm tù (Được khấu trừ vào thời gian bị cáo bị tạm giam từ ngày 06/11/2024 đến nay), cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Điểu Dân K cho Ủy ban nhân xã Q, thị xã C, tỉnh Bình Phước quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo và bị hại, buộc bị cáo Điểu Dân K phải bồi thường thêm cho bị hại Điểu Diên 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng.

Về án phí : Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 750.000 (Bảy trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo Điểu Dân K, bị hại Điểu D1 và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Thị Thinh có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo luật định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước (01 bản);
  • - VKSND tỉnh Bình Phước (01 bản);
  • - Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Phước (01)
  • - TTLLTP- Sở TP tỉnh Bình Phước (01)
  • - VKSND huyện Đồng Phú (01 bản);
  • - THADS huyện Đồng Phú (01 bản);
  • - CA huyện Đồng Phú (03 bản);
  • - Bị cáo (01 bản);
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về cố ý gây thương tích (intentionally inflicting injury)

  • Số bản án: 07/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Intentionally inflicting injury)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Điểu Dân Khánh - Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger