|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 07/2025/HS-ST Ngày 12-3-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Khắc Quyết;
Bà Lê Thị Mai Hương.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Bình - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trần Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Bùi Văn D, sinh ngày 18 tháng 12 năm 1985 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn Q, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn G và bà Phạm Thị B; vợ là Lộc Thị L (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 14-9-2024, chuyển tạm giam từ ngày 20-9-2024; có mặt.
Người làm chứng: Ông Vũ Đức H, ông Vũ Đắc H1, ông Hoàng Đình H2; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 13-9-2024, Bùi Văn D đang ở nhà tại thôn Q, xã Đ, K, Hải Phòng thì đối tượng tên H3 (theo lời khai của D thì H3 là người Nghệ An, đang ở trọ tại tổ dân phố N, phường M, Đ, Hải Phòng) đến nhà rủ D chung tiền mua ma túy Heroine về sử dụng. D đồng ý và đưa cho H3 100.000đồng rồi cả hai thay nhau điều khiển xe đạp đến khu vực đường tàu gần Bệnh viện V, quận L, Hải Phòng để mua ma túy. Đến nơi, D ở ngoài chờ, còn H3 đi bộ một mình vào trong đường tàu. Khoảng 10 phút sau, H3 đi ra mang theo 01 gói ma túy Heroine. Khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, D và H3 đi xe đạp về đến khu vực Nghĩa trang thuộc tổ dân phố N, phường M, Đ, Hải Phòng thì H3 bỏ ma túy ra để cùng D sử dụng. H3 để gói ma túy xuống đất, sau đó D và H3 mỗi người tự lấy giấy bạc trong vỏ bao thuốc lá và bật lửa của riêng từng người để tự sử dụng ma túy bằng cách đốt và hít khói ma túy vào cơ thể. Số ma túy còn lại được D cất giấu vào sau ốp điện thoại của D để sử dụng cho bản thân. Sau đó, D và H3 đạp xe về khu vực bờ đê gần nhà D để lấy 02 con dao (do D nhặt được trước đó), cả hai thống nhất đến nửa đêm sẽ đi trộm cắp tài sản là dây cáp điện tại khu đô thị S, thuộc tổ H, phường N, Đ, Hải Phòng.
Khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, D và H3 điều khiển xe đạp đến sân Golf, để xe đạp ở bên ngoài sát tường bao rồi trèo vào bên trong, cả hai đi bộ đến 01 căn hộ đang được xây dựng của Công ty Cổ phần T (địa chỉ trụ sở: khu dân cư S, đường P, phường N, Đ, Hải Phòng). Tại đây, D sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A16K của D chiếu đèn cho H3 rút các sợi dây cáp điện ra khỏi ống và dùng dao chặt thành từng đoạn. Cả hai đang thực hiện thì bị lực lượng bảo vệ khu đô thị S phát hiện, phối hợp cùng Công an phường N bắt quả tang. H3 chạy được ra ngoài, điều khiển xe đạp bỏ trốn. D bị bắt và bị thu giữ 02 cuộn dây cáp đồng hình trụ tròn, 01 cuộn dài 5,3m, 01 cuộn dài 5,35m, đường kính mỗi cuộn 2,2cm, đường kính lõi kim loại 0,9cm; 02 con dao bằng kim loại gồm 01 con dao màu đen, 01 con dao màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A16K, bên trong ốp điện thoại có 01 gói giấy chứa chất bột màu trắng, D khai là ma túy Heroine.
Kết luận giám định số 1067/KL-KTHS ngày 19-9-2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: “Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,10 gam, loại Heroine (H)”.
Kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐGTS ngày 19-11-2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự quận Đ kết luận: “02 đoạn dây điện loại dây điện vỏ bằng nhựa LS-VINA cable & system Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC 2x25 .9mm có độ dài 5,3m và 5,35m tại thời điểm định giá tháng 11-2024 có giá là 1.576.200đồng”.
Vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong chất ma túy còn lại sau giám định (niêm phong số 1067MT/PC09); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A16K.
Bản Cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 26-02-2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng đã truy tố Bùi Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đối với nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bùi Văn D khai nhận đưa 100.000đồng cho H3 đi mua tại khu vực đường tàu gần Bệnh viện V, quận L, Hải Phòng, không rõ H3 mua của ai, mua bao nhiêu tiền. Ngoài lời khai của D, không còn chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ.
Đối với H3 là người chung tiền với D mua ma túy và sử dụng chung với nhau. Hành vi của H3 và D có dấu hiệu của tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng đến nay chưa có kết quả, chưa xác định được lai lịch, địa chỉ, nhân thân của H3. Ngoài lời khai của D không còn chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra tách hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của H3, D để tiếp tục điều tra, giải quyết sau.
Về 02 cuộn dây cáp điện do D trộm cắp có giá trị định giá là 1.576.200 đồng, bản thân D chưa có tiền án, tiền sự nên hành vi của D không cấu thành tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Công an quận Đ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản đối với D, tịch thu 02 con dao D, H3 sử dụng để thực hiện việc trộm cắp và trả lại 02 cuộn dây cáp cho chủ sở hữu là Công ty cổ phần T.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bùi Văn D từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong chất ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói của mẫu vật số 1067MT/PC09 của Phòng K - Công an thành phố H.
- - Tịch thu phát mại, nộp vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A16K được niêm phong trong 01 phong bì mặt trước có ký hiệu ĐS614, mặt sau có 02 dấu mộc tròn của Phòng K Công an thành phố H và 01 chữ ký Trần Thu H4, không kiểm tra tình trạng bên trong.
Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Bùi Văn D phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn D không tranh luận với Kiểm sát viên, thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn đã truy tố là đúng, có thái độ ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội, xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tài liệu, chứng cứ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, Kiểm sát viên thu thập; bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[3] Về tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn truy tố đối với bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn D khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản kiểm tra, biên bản khám xét, biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp với lời khai của người làm chứng, bản kết luận giám định cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa đã có đủ cơ sở xác định: Ngày 14-9-2024, tại dự án khu đô thị S Đ, thuộc tổ dân phố H, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng, Bùi Văn D có hành vi tàng trữ trái phép 0,10 gam ma túy loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân, thì bị bắt quả tang cùng vật chứng. Kết luận giám định số 1067/KL-KTHS ngày 19-9-2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: “Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,10 gam, loại Heroine (H)”. Bị cáo Bùi Văn D đủ năng lực hành vi và nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, tuy nhiên do mục đích để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Như vậy đã đủ cơ sở kết luận: Bùi Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết định khung hình phạt:
Bị cáo Bùi Văn D có hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, lượng ma túy qua giám định là 0,10gam, là loại Heroine. Như vậy hành vi phạm tội của bị cáo phải chịu trách nhiệm theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung hình phạt “c. Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” như kết luận của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Bùi Văn D không vi phạm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo; tỏ ra ăn năn, hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo khi xem xét quyết định hình phạt.
[7] Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Ma túy là hiểm họa của toàn xã hội, nó không những hủy hoại sức khỏe mà còn làm băng hoại đạo đức con người, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Việc bài trừ tận gốc tệ nạn ma túy trong toàn xã hội đang được Đảng và Nhà nước quan tâm thực hiện, tuy nhiên loại tội phạm này vẫn đang có chiều hướng gia tăng, diễn biến phức tạp, gây mất trật tự an toàn xã hội. Do đó xét mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo ý thức chấp hành pháp luật kém, ngoài việc tàng trữ ma túy bị cáo còn có hành vi trộm cắp tài sản, tuy chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng cũng đã bị Công an quận Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 96/QĐ-XPVPHC ngày 11-12-2024 nên phải đánh giá bị cáo không có nhân thân tốt lại không có ý thức cải tạo, tu dưỡng, rèn luyện để trở thành người công dân lương thiện nên cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian và xét xử bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung. Tuy nhiên, căn cứ nguyên tắc xử lý của pháp luật hình sự cần khoan hồng đối với người thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, áp dụng hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.
[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, không xác định được bị cáo có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã thu giữ gồm:
- - 01 phong bì niêm phong chất ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói của mẫu vật số 1067MT/PC09 của Phòng K - Công an thành phố H. Xét thấy đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên bị tịch thu, tiêu hủy.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A16K được niêm phong trong 01 phong bì mặt trước có ký hiệu ĐS614, mặt sau có 02 dấu mộc tròn của Phòng K Công an thành phố H và 01 chữ ký Trần Thu H4, không kiểm tra tình trạng bên trong. Xét thấy đây là công cụ, phương tiện bị cáo dùng để cất giấu ma túy vào ốp lưng phía sau của điện thoại nên cần tịch thu, phát mại nộp vào Ngân sách Nhà nước.
[10] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Văn D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Bùi Văn D 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 14 tháng 9 năm 2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên xử:
- - Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong chất ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói của mẫu vật số 1067MT/PC09 của Phòng K - Công an thành phố H.
- - Tịch thu, phát mại, nộp vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A16K được niêm phong trong 01 phong bì mặt trước có ký hiệu ĐS614, mặt sau có 02 dấu mộc tròn của Phòng K Công an thành phố H và 01 chữ ký Trần Thu H4, không kiểm tra tình trạng bên trong.
(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an quận Đ, thành phố Hải Phòng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng ngày 26 tháng 02 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Bùi Văn D phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Văn D có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Minh Phương |
Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 07/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chât ma túy
