Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LAI CHÂU
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
  Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HS-PT

Ngày 10-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Giang

Các Thẩm phán: Bà Phan Thị Phương, Ông Đoàn Hằng Hải

-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thuý Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huyên - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 08/2025/TLPT- HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo Đàm Thị K và Lê Xuân N1. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HS - ST, ngày 06 tháng 12 năm 2024 của TAND thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu.

Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Họ và tên: Đàm Thị K, tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 26/6/1982, tại thành phố Hải Phòng; Nơi tạm trú: Xã Đ, huyện G, Thành phố Hà Nội; Nơi đăng ký HKTT: Tổ C, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Đàm Văn M, đã chết và bà Bùi Thị K1, sinh năm 1955; Có chồng là Nguyễn Đăng N, sinh năm 1973 và có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2006; Gia đình bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Tiền sự: Không; Tiền án: không;
  2. Bị cáo Đàm Thị K bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường Đ, thành phố L từ ngày 28/5/2024 đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Lê Xuân N1, tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày 27/01/1981, tại tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Tổ C, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Xuân X, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1955; Có vợ là Đàm Thị Q, sinh năm 1988; Có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2012; Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Tiền sự: Không; Tiền án: không.
  4. Bị cáo Lê Xuân N1 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường Đ, thành phố L từ ngày 14/5/2024 đến nay - Có mặt tại phiên tòa

- Ngoài ra còn có người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Chi cục thuế khu vực thành phố L - T, bà Đàm Thị Q không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trung tâm mua sắm quần áo, giày dép K, địa chỉ tại tổ C, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu do 02 hộ kinh doanh quản lý và hoạt động kinh doanh độc lập có chung biển hiệu gồm: (1) Hộ kinh doanh “Đàm Thị Khánh” được phòng Tài chính – Kế hoạch UBND thành phố L cấp giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 23A8002119 (đăng ký lần đầu vào ngày 20/9/2013, đăng ký thay đổi lần cuối cùng vào ngày 03/12/2021), đại diện hộ kinh doanh là bà Đàm Thị K, sinh năm 1982 trú tại Tổ C, phường Đ, thành phố L. Ngành nghề kinh doanh của hộ là bán buôn vải, hàng may mặc, giày dép, bán buôn đồ dùng khác cho gia đình. (2) Hộ kinh doanh “Lê Xuân N1” được phòng Tài chính – Kế hoạch UBND thành phố L cấp giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 23A8001539 (đăng ký lần đầu vào ngày 25/01/2008, đăng ký thay đổi lần cuối cùng vào ngày 21/3/2022), đại diện hộ kinh doanh là ông Lê Xuân N1, sinh năm 1981 trú tại Tổ C, phường Đ, thành phố L. Ngành nghề kinh doanh của hộ là bán lẻ trò chơi, đồ chơi trong các cửa hàng chuyên doanh, bán lẻ hàng may mặc, giày dép, hàng da và giả da trong các cửa hàng chuyên doanh. Cả hai hộ kinh doanh đều nộp thuế theo phương pháp khoán thuế theo kê khai của từng hộ kinh doanh. Kể từ thời điểm bắt đầu hoạt động kinh doanh đến cuối năm 2022, hộ kinh doanh Đàm Thị K và hộ kinh doanh Lê Xuân N1 đều nộp thuế hàng năm nhưng mỗi hộ tự kinh doanh, quản lý và đều không ghi chép doanh thu bán hàng thực tế nên chỉ đóng thuế theo mức kê khai doanh thu của từng hộ kinh doanh.

Trong năm 2023 (tính từ ngày 01/01/2023 đến ngày 31/12/2023), hộ Đàm Thị K chỉ kinh doanh các mặt hàng quần áo còn hộ Lê Xuân N1 kinh doanh các mặt hàng giày, dép, túi xách, ba lô, đồ da và giả da, đồ chơi trẻ em, thú bông. Việc kinh doanh của hộ Lê Xuân Nguyên do N1 và vợ của N1 là Đàm Thị Q thực hiện còn của hộ Đàm Thị K do N1, Q và con trai của K là Nguyễn Văn N2 cùng thực hiện (K thuê N1, Q quản lý và bán hàng cho K). Doanh thu bán hàng của hai hộ được nhập chung trên phần mềm bán hàng POS365.VN nhưng số tiền thu được từ việc bán hàng của mỗi hộ kinh doanh được tách riêng cho từng hộ. Đối với nghĩa vụ nộp thuế năm 2023, hai hộ kinh doanh đã tự nguyện khai nộp thuế và nộp cho Cơ quan thuế, cụ thể:

  • Hộ Đàm Thị K: Tại tờ kê khai thuế ngày 22/11/2022, hộ Đàm Thị K kê khai doanh thu tính thuế là 66.600.000 đồng/01 tháng nên số thuế giá trị gia tăng (GTGT) phải nộp là 666.000 đồng/01 tháng, số thuế thu nhập cá nhân (TNCN) phải nộp là 333.000 đồng/01 tháng. Hộ Đàm Thị K có thông báo cho Chi cục thuế về việc tạm ngừng kinh doanh trong tháng 2/2023 nên được miễn thuế khoán trong tháng 2/2023. Do đó, tổng doanh thu mà hộ Đàm Thị K tự kê khai thu nhập trong năm 2023 là 732.600.000đồng tương ứng với tổng số thuế GTGT phải nộp trong năm 2023 là 7.326.000 đồng và tổng số thuế TNCN phải nộp trong năm 2023 là 3.663.000 đồng. Tuy nhiên kết quả điều tra xác định được thực tế doanh thu năm 2023 của hộ kinh doanh Đàm Thị K là 10.873.635.230 đồng, như vậy số tiền doanh thu phải nộp thuế mà hộ kinh doanh Đàm Thị K đã không kê khai và không kê khai bổ sung là 10.141.035.230đồng. Khi kê khai thuế, do K không có ở nhà nên đã gọi điện nhờ N1 viết hộ tờ khai thuế theo mức doanh thu tính thuế là 66.600.000 đồng/01 tháng và hàng quý nhờ Đàm Thị Q nộp tiền thuế hộ K.
  • Hộ Lê Xuân N1: Tại tờ kê khai thuế ngày 22/11/2022, hộ Lê Xuân N1 kê khai doanh thu tính thuế là 20.000.000 đồng/01 tháng nên số thuế GTGT phải nộp là 200.000 đồng/01 tháng, số thuế TNCN phải nộp là 100.000 đồng/01 tháng. Hộ Lê Xuân N1 có thông báo cho Chi cục thuế về việc tạm ngừng kinh doanh trong tháng 2/2023 và miễn thuế khoán trong tháng 2/2023. Do đó tổng số thuế GTGT phải nộp năm 2023 là 2.200.000 đồng tổng số thuế TNCN phải nộp năm 2023 là 1.100.000 đồng. N1 là người trực tiếp kê khai thuế và nộp cho cơ quan thuế còn Q là người nộp tiền thuế hộ Nguyễn. Tuy nhiên kết quả điều tra xác định được thực tế doanh thu năm 2023 của hộ kinh doanh Lê Xuân N1 là 7.329.105.000đồng, như vậy số tiền doanh thu phải nộp thuế mà hộ kinh doanh Lê Xuân N1 đã không kê khai và không kê khai bổ sung là 7.109.105.230 đồng.

Đến hết ngày 31/12/2023, hộ kinh doanh Đàm Thị K đã nộp ngân sách nhà nước số tiền thuế theo kê khai là 10.989.000đồng (thuế GTGT 7.326.000 đồng; thuế TNCN là 3.663.000 đồng) trên tổng số doanh thu kê khai năm 2023 là 66.600.000 đồng x 11 tháng = 732.600.000 đồng còn hộ kinh doanh Lê Xuân N1 đã nộp ngân sách nhà nước số tiền thuế theo kê khai là 3.300.000 đồng (thuế GTGT 2.200.000 đồng; thuế TNCN là 1.100.000 đồng) trên tổng số doanh thu kê khai năm 2023 là 20.000.000 đồng x 11 tháng = 220.000.000 đồng.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 51 Luật quản lý thuế và điểm b khoản 4 Điều 13 Thông tư 40/2021/TT-BTC ngày 01/6/2021 của Bộ T thì khi có thay đổi về quy mô kinh doanh (diện tích kinh doanh, lao động sử dụng, doanh thu) thì hộ khoán phải khai điều chỉnh, bổ sung tờ khai thuế để Cơ quan thuế xác định doanh thu và điều chỉnh mức thuế khoán đối với hộ kinh doanh nếu đủ điều kiện điều chỉnh. Tuy nhiên hộ kinh doanh Đàm Thị K và hộ kinh doanh Lê Xuân N1 vì mục đích trốn thuế đã không khai điều chỉnh, bổ sung tờ khai thuế, nộp hồ sơ khai thuế cho Cơ quan thuế để điều chỉnh mức thuế khoán mặc dù doanh thu thực tế của hộ kinh doanh Đàm Thị K và hộ kinh doanh Lê Xuân N1 đều thay đổi cao hơn mức doanh thu đã khoán.

Đến ngày 04/01/2024, tổ công tác của Đội CSĐT tội phạm về kinh tế, ma túy Công an thành phố phối hợp với Công an phường Đ và đội Quản lý thị trường số B1 thành phố L tiến hành kiểm tra Trung tâm mua sắm quần áo, giày dép K đã phát hiện hành vi trốn thuế của hộ kinh doanh Đàm Thị K và hộ kinh doanh Lê Xuân N1. Tổ công tác đã lập biên bản vi phạm và thu giữ toàn bộ các vật chứng có liên quan.

* Tại bản kết luận giám định thuế số 310/KL-GĐV ngày 11/04/2024 của Cục thuế tỉnh L kết luận:

  • Đối với hộ kinh doanh Đàm Thị K:
    • + Tổng số tiền thuế GTGT, TNCN phải nộp năm 2023 tăng thêm sau khi trừ đi số đã nộp theo mức thuế khoán hộ kinh doanh Đàm Thị K tự kê khai là 152.115.528 đồng. Trong đó: Số thuế GTGT phải nộp: 108.736.352 đồng – 7.326.000 đồng = 101.410.528 đồng. Số thuế TNCN phải nộp: 54.368.176 đồng – 3.663.000 đồng = 50.705.176 đồng.
    • + Tổng số tiền thuế GTGT, TNCN hộ kinh doanh Đàm Thị K phải nộp năm 2023 tăng thêm qua giám định là 152.115.528 đồng (một trăm năm mươi hai triệu một trăm mười lăm nghìn năm trăm hai mươi tám đồng).
  • Đối với hộ kinh doanh Lê Xuân N1:
    • + Tổng số tiền thuế GTGT, TNCN phải nộp năm 2023 tăng thêm sau khi trừ đi số đã nộp theo mức thuế khoán hộ kinh doanh Lê Xuân N1 tự kê khai là 106.636.575 đồng. Trong đó: Số thuế GTGT phải nộp: 73.291.050 đồng – 2.200.000 đồng =71.091.050 đồng. Số thuế TNCN phải nộp: 36.645.525 đồng – 1.100.000 đồng = 35.545.525 đồng.
    • + Tổng số tiền thuế GTGT, TNCN hộ kinh doanh Lê Xuân N1 phải nộp năm 2023 tăng thêm qua giám định là 106.636.575 đồng (một trăm linh sáu triệu sáu trăm ba mươi sáu nghìn năm trăm bẩy mươi năm đồng).

Như vậy, hộ kinh doanh Đàm Thị K năm 2023 đã trốn thuế tổng số tiền 152.115.528 đồng (trong đó: Số thuế GTGT là 101.410.528 đồng; Số thuế TNCN là 50.705.176 đồng), hộ kinh doanh Lê Xuân N1 năm 2023 đã trốn thuế tổng số tiền 106.636.575 đồng (trong đó: Số thuế GTGT là 71.091.050 đồng; Số thuế TNCN là 35.545.525 đồng).

* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật:

Thu giữ của Lê Xuân N1: 01 màn hình máy tính Lenovo Think Vision S22c-19, số Serial: V5YX935701YY07161C9-KAR1-WW, màu đen; 01 cây máy tính để bàn loại Lenovo V50s-071MB, có mã số imei 1: 8SSM10X38063F1WH09N00F3, mã số imei 2: V50s-071MB MT-M 11EF-003HVA S/N YL0117JF, màu đen, bên trong có 01 ổ chứng số Serial: SN S4YDNFON851263; 01 máy in hóa đơn PRP085USE, số Serial: 2020110005, màu đen; 01 máy quyét mã vạch Koohii 0D7200, số imei: 72002111250416, màu đen, đã qua sử dụng.

- Thu giữ của Đàm Thị Q: 01 quyển sổ ghi chép nhãn hiệu Hồ N, bìa trước có ghi chữ Nguyên Quỳnh Số Hàng ngày QA+GĐ, tại các tờ bên trong của quyển sổ có chữ ký của Đàm Thị Quỳnh .

Tại bản án số 15/2024/HS- ST ngày 06 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu đã quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 4 Điều 200, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 48 Bộ luật hình sự; Các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự; điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đàm Thị K, Lê Xuân N1 phạm tội “Trốn thuế”.

- Về hình phạt:

+ Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Đàm Thị K 04 (bốn) tháng tù; Xử phạt bị cáo Lê Xuân N1 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày các bị cáo vào chấp hành án.

+ Hình phạt bổ sung: Xử phạt mỗi bị cáo 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng; án phí; quyền kháng cáo của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Ngày 17/12/2024, các bị cáo Đàm Thị K, Lê Xuân N1 có đơn kháng cáo bản án số 15/2024/HS - ST, ngày 06 tháng 12 năm 2024 của TAND thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu với nội dung xin được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ.

*Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, các bị cáo Đàm Thị K, Lê Xuân N1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị sửa nội dung kháng cáo xin được chuyển hình phạt chính là hình phạt tù sang hình phạt chính là hình phạt tiền và xin không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, vì các bị cáo đều có thu nhập ổn định, có tài sản là nhà đất và hệ thống cửa hàng trung tâm mua sắm vẫn đang hoạt động kinh doanh buôn bán để đảm bảo cho công tác thi hành án.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu đề Hội đồng xét xử nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự, chấp nhận nội dung kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm số: 15/2024/HS - ST, ngày 06 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu đề nghị xử phạt bị cáo Đàm Thị K từ 130.000.000đồng đến 150.000.000 đồng, xử phạt bị cáo Lê Xuân N1 từ 100.000.000đồng đến 110.000.000 đồng.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo biết mình đã vi phạm pháp luật, xin hội đồng xét xử cho các bị cáo được chuyển hình phạt chính là hình phạt tù sang hình phạt chính là hình phạt tiền và xin không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo Đàm Thị K, Lê Xuân N1 nộp trong thời hạn luật định, phù hợp với các quy định tại các Điều Điều 331; 332; 333 Bộ luật tố tụng Hình sự nên đơn kháng cáo của các bị cáo hợp lệ được xem xét giải quyết.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó HĐXX có đủ căn cứ để xác định vụ án như sau:

Bị cáo Đàm Thị K là đại diện hộ kinh doanh “Đàm Thị Khánh” được phòng Tài chính – Kế hoạch UBND thành phố L cấp giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 23A8002119 (đăng ký lần đầu vào ngày 20/9/2013, đăng ký thay đổi lần cuối cùng vào ngày 03/12/2021),

Bị cáo Lê Xuân N1 là đại diện hộ kinh doanh “Lê Xuân N1” được phòng Tài chính – Kế hoạch UBND thành phố L cấp giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 23A8001539 (đăng ký lần đầu vào ngày 25/01/2008, đăng ký thay đổi lần cuối cùng vào ngày 21/3/2022),

Trong năm 2023, 02 hộ kinh doanh Đàm Thị K, Lê Xuân N1 đều có thay đổi về quy mô kinh doanh (doanh thu) so với doanh thu đã khoán và đều thuộc trường hợp phải khai điều chỉnh, bổ sung tờ khai thuế cho Cơ quan thuế. Tuy nhiên, vì mục đích trốn thuế mà Đàm Thị K và Lê Xuân N1 đã không nộp hồ sơ khai thuế cho Cơ quan thuế để điều chỉnh mức thuế khoán. Đàm Thị K đã trốn thuế tổng số tiền 152.115.528 đồng (trong đó: Số thuế GTGT là 101.410.528 đồng; Số thuế TNCN là 50.705.176 đồng), Lê Xuân N1 đã trốn thuế tổng số tiền 106.636.575 đồng (trong đó: Số thuế GTGT là 71.091.050 đồng; Số thuế TNCN là 35.545.525 đồng). Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc khai không trung thực, không đúng và khai sai số tiền doanh thu thực tế của hộ kinh doanh mà mình đang là người quản lý là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân mà các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi trốn thuế. Hành vi trốn thuế của cán bị là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế quản lý thuế của Nhà nước dẫn đến thất thu cho ngân sách Nhà nước.

Do đó Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu xử phạt các bị cáo bị cáo Đàm Thị K 04 (bốn) tháng tù; bị cáo Lê Xuân N1 03 (ba) tháng tù về tội “Trốn thuế” theo điểm a khoản 1, khoản 4 Điều 200 của Bộ luật hình sự. Hình phạt bổ sung: Xử phạt mỗi bị cáo 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Cấp sơ thẩm đã xem xét toàn bộ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo Đàm Thị K 04 tháng tù, bị cáo Lê Xuân N1 03 tháng tù là có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật.

Xét nội dung kháng cáo xin được chuyển hình phạt chính là hình phạt tù sang hình phạt chính là hình phạt tiền và xin không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền của các bị cáo: Tại giai đoạn phúc thẩm các bị cáo cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới làm căn cứ xin giảm nhẹ hình phạt là biên lai thu tiền hoàn thuế số 0000206 với số tiền 132.115.528 đồng đối với bị cáo Đàm Thị K. Biên lai thu tiền hoàn thuế số 0000205 với số tiền 76.636.575 đồng đối với bị cáo Lê Xuân N1. Xét thấy các bị cáo đều đã khắc phục xong hậu quả do hành vi phạm tội gây ra là toàn bộ số tiền trốn thuế là 258.752.103 đồng, trong đó bị cáo K 152.115.528 đồng, bị cáo N1 106.636.575 đồng, các bị cáo đều có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 51/ Bộ luật hình sự và có đủ điều kiện kinh tế và tài sản đảm bảo để các bị cáo thi hành hình phạt chính là hình phạt tiền, do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo chuyển hình phạt chính là hình phạt tù sang hình phạt chính là hình phạt tiền và không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo. Do đó đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự, chấp nhận nội dung kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm số: 15/2024/HS - ST, ngày 06 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu là có căn cứ cần được chấp nhận.

[4] Truy thu đối với bị cáo Đàm Thị K số tiền đã trốn thuế là 152.115.528 đồng (Một trăm năm mươi hai triệu một trăm mười lăm nghìn năm trăm hai mươi tám đồng) để sung công quỹ nhà nước. Xác nhận bị cáo Đàm Thị K đã nộp vào ngân sách nhà nước toàn bộ số tiền trốn thuế 152.115.528 đồng (Số tiền 20.000.000 đồng, hiện đang lưu giữ tại cơ quan Thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh Lai Châu theo biên lai thu tiền số 0000195 ngày 05/12/2024, số tiền 132.115.528 đồng hiện đang lưu giữ tại cơ quan Thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh Lai Châu theo biên lai thu tiền số 0000206 ngày 23/12/2024).

Truy thu đối với bị cáo Lê Xuân N1 số tiền đã trốn thuế là 106.636.575 đồng (Một trăm linh sáu triệu sáu trăm ba mươi sáu nghìn năm trăm bẩy mươi năm đồng) để sung công quỹ nhà nước. Xác nhận Bị cáo Lê Xuân N1 đã nộp vào ngân sách nhà nước toàn bộ số tiền trốn thuế 106.636.575 đồng (Số tiền 30.000.000 đồng, hiện đang lưu giữ tại cơ quan Thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh Lai Châu theo biên lai thu tiền số 0000194 ngày 05/12/2024, số tiền 76.636.575 đồng hiện đang lưu giữ tại cơ quan Thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh Lai Châu theo biên lai thu tiền số 0000205 ngày 23/12/2024).

[5] Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Về án phí: Theo quy định tại Điều 135; Điều 136 Bộ luật TTHS, Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14. Yêu cầu kháng cáo của bị cáo được HĐXX chấp nhận, các bị cáo phải không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 của BLTTHS. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đàm Thị K, Lê Xuân N1 sửa bản án sơ số 15/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu.
  2. Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 4 Điều 200, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 48 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333/Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

  3. Về hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Đàm Thị K, Lê Xuân N1 phạm tội “Trốn thuế".
    • + Hình phạt chính:
      • -Xử phạt bị cáo Đàm Thị K 130. 000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng).
      • -Xử phạt bị cáo Lê Xuân N1 100. 000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
    • + Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  4. Về án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  5. Truy thu số tiền bị cáo Đàm Thị K đã trốn thuế là 152.115.528 đồng (Một trăm năm mươi hai triệu một trăm mười lăm nghìn năm trăm hai mươi tám đồng) để sung công quỹ nhà nước. Xác nhận bị cáo Đàm Thị K đã nộp vào ngân sách nhà nước toàn bộ số tiền trốn thuế 152.115.528 đồng (Số tiền 20.000.000 đồng hiện đang lưu giữ tại cơ quan Thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh Lai Châu theo biên lai thu tiền số 0000195 ngày 05/12/2024, số tiền 132.115.528 đồng hiện đang lưu giữ tại cơ quan Thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh Lai Châu theo biên lai thu tiền số 0000206 ngày 23/12/2024). Truy thu số tiền bị cáo Lê Xuân N1 đã trốn thuế là 106.636.575 đồng (Một trăm linh sáu triệu sáu trăm ba mươi sáu nghìn năm trăm bẩy mươi năm đồng) để sung công quỹ nhà nước. Xác nhận bị cáo Lê Xuân N1 đã nộp vào ngân sách nhà nước toàn bộ số tiền trốn thuế 106.636.575 đồng (Số tiền 30.000.000 đồng, hiện đang lưu giữ tại cơ quan Thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh Lai Châu theo biên lai thu tiền số 0000194 ngày 05/12/2024, số tiền 76.636.575 đồng hiện đang lưu giữ tại cơ quan Thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh Lai Châu theo biên lai thu tiền số 0000205 ngày 23/12/2024).
  6. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận

  • - Công an tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu ;
  • - Cơ quan THAHS tỉnh Lai Châu;
  • - TAND thành phố Lai Châu;
  • - VKSND thành phố Lai Châu;
  • - Chi cục THADS thành phố Lai Châu;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HSVA.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Hương Giang

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN
CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HS-PT ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU về trốn thuế

  • Số bản án: 07/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Trốn thuế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: .
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger