|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH Bản án số: 07/2025/DS - PT Ngày: 05/03/2025 V/v: Tranh chấp Quyền sử dụng đất |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Túc
Các Thẩm phán: Bà Trần Thanh Hải
Bà Hoàng Ngọc Liễu
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Mỹ Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 05/03/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số:28/2024/TLPT-DS ngày 09/10/2024 về việc “Tranh chấp Quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2024/DS-PT ngày 09/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạc S, tỉnh Hòa Bình bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 35/2024/QĐ-PT ngày 09/12/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Bùi Văn T, sinh năm 1968; Địa chỉ: Xóm C, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình, có mặt.
- Bị đơn: Ông Bùi Văn T1, sinh năm 1949; Địa chỉ: Xóm C, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Anh Bùi Văn H, sinh năm 1987; Địa chỉ: Xóm C, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Bùi Văn T1: Ông Trần Dũng T2 - Luật sư, Văn phòng L1, Đoàn luật sư tỉnh H; Bà Nguyễn Thị M – Luật sư, Văn phòng luật sư Công ty L2 và cộng sự, Đoàn luật sư thành phố H.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan liên quan đến nguyên đơn: Bà Bùi Thị T3, sinh năm 1962; Địa chỉ: Xóm C, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Bà Bùi Thị B, sinh năm 1966; Địa chỉ: Xóm K, xã B, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Bà Bùi Thị N, sinh năm 1970; Địa chỉ: Xóm V, xã M, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan liên quan đến bị đơn: Bà Bùi Thị Ẹ, sinh năm 1955; Anh Bùi Văn H, sinh năm 1987; Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1989; Cùng địa chỉ: Xóm C, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Người đại diện của bà Bùi Thị Ẹ là anh Bùi Văn H, sinh năm 1987.
- Người làm chứng: Ông Bùi Văn N1, sinh năm 1963; ông Bùi Văn V, sinh năm 1961; ông Bùi Văn V1, sinh năm 1959; ông Bùi Văn Ẻ, sinh năm 1948; ông Bùi Văn V2, sinh năm 1932; Cùng địa chỉ: Xóm C, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
(Ông T; anh H, bà N; luật sư T2; luật sư M có mặt. Ông T1; bà Ẹ; bà T3; bà B và những người làm chứng đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa:
Nguyên đơn ông Bùi Văn T trình bày:
Từ những năm 1970, cụ Bùi Văn Ủ, Bùi Thị H1 (là bố mẹ của ông Bùi Văn T) có khai phá được diện tích đất khoảng 10.000m2 đất tại xóm C, xã L (nay là xóm C, xã V), huyện L, tỉnh Hòa Bình.Đất cho đến nay chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cụ Ủ và cụ H1 có 05 người con là Bùi Thị C(đã chết), Bùi Thị T3, Bùi Thị B, Bùi Văn T và Bùi Thị N. Cụ Ủ chết, năm 1976 cụ H1 chết năm 1983 đều không để lại di chúc. Đất đai và tài sản trên đất gồm nhà cửa, hoa màu do chị em ông T quản lý, sử dụng. Sau đó, các chị ông T đi lấy chồng, chị có ông T và bà N sinh sống trên thửa đất nêu trên. Năm 1988, do khó khăn nên ông T vào miền N làm ăn, trước khi đi ông T có làm 01 nhà gỗ, gọi là nhà kê để bà N ở. Đến năm 1990, ông T trở về thì thấy có 08 khẩu nhà ông Bùi Văn T1 (là cháu họ gọi ông T là chú) đến ở tại ngôi nhà ông T làm cho bà N. Ông T có hỏi thì bà N nói là gia đình ông T1 tự ý sang ở cùng, ông T không đồng ý để gia đình ông T1 ở nhưng ông T1 xin ở tạm thời gian ngắn khoảng 02 đến 03 tháng thì sẽ chuyển đi. Ông T thấy hoàn cảnh gia đình ông T1 khó khăn nên đồng ý. Khi đó nhà mới làm ông T còn thiếu tiền công thợ nên bảo với ông T1 là nếu muốn ở lại thì phải đưa tiền để ông T trả tiền công thợ. Ông T1 đồng ý và đưa 1.200.000đ để trả tiền công thợ, không phải tiền mua bán đất, bán nhà.
Năm 2022, họ hàng kêu gọi ông T về để cùng xây dựng, tôn tạo mồ mà. Ông T có yêu cầu ông T1 trả lại một phần đất để làm nhà sinh sống và thờ cúng nhưng ông T1 không đồng ý. Vì vậy, ông Bùi Văn T khởi kiện với yêu cầu ông Bùi Văn T1 và gia đình phải di chuyển đi nơi khác và trả lại toàn bộ diện tích bố mẹ ông T để lại. Các tài sản gia đình ông T1 tạo lập trên đất thì gia đình ông T1 tự tháo dỡ, thu hoạch để trả lại đất; ông T không chấp nhận bồi thường.
Bị đơn ông Bùi Văn T1 trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp đúng là do bố mẹ ông Bùi Văn T là cụ Bùi Văn Ủ, Bùi Thị H1 khai phá. Năm 1988, sau khi bố mẹ ông T chết, các chị em ông T đi lấy chồng, toàn bộ đất đai giao lại cho ông Bùi Văn T quản lý, sử dụng. Sau đó, ông Bùi Văn T đi làm ăn xa nên giao đất cho gia đình ông T1 quản lý, sử dụng. Đến năm 1990, ông T trở về và bán lại cho ông T1 toàn bộ diện tích đất, nhà ở và tài sản gắn liền với đất giá 1.200.000đ. Gia đình ông T1 đã sử dụng ổn định hơn 30 năm nay mà ông T và các chị em ruột của ông T không có ý kiến gì. Qúa trình sử dụng đất, gia đình ông T1 thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước và đến năm 2000 gia đình ông T1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0816748, số vào số 00520 QSDĐ/QĐUBH. Phía bị đơn còn cho rằng xác định đây là tài sản thừa kế do bố mẹ ông T để lại nên vụ án đã hết thời hiệu khởi kiện. Căn cứ quy định pháp luật dân sự, thời hiệu để người thừa kế đã hết, thì tài sản thuộc về người đang chiếm hữu ngay tình, sử dụng liên tục, công khai.
Do vậy, phía bị đơn không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn do đất đã được bán cho gia đình bị đơn và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đề nghị Tòa án không thụ lý vụ án, trả lại đơn khởi kiện cho ông Bùi Văn T và xác định hết thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế đối với các chị em gia đình ông Bùi Văn T.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị T3, Bùi Thị B, Bùi Thị N trình bày:
Nguồn gốc đất do bố mẹ các bà khai phá năm 1970. Sau khi bố mẹ chết thì quá trình quản lý, sử dụng đất đúng như ông Bùi Văn T đã khai. Các bà hiện nay đã lập gia đình riêng nên phần đất bố mẹ các bà khai phá, các bà đều nhất trí để lại toàn bộ cho ông Bùi Văn T sử dụng. Việc gia đình ông Bùi Văn T1 đến ở là do gia đình ông T1 tự ý chứ các bà đều không đồng ý. Về phần bà Bùi Thị N khai: Sau khi ông T đi làm ăn, bà ở nhà một mình thì gia đình ông T1 đến ở cùng và nói rằng ở cùng để khỏi bị bắt nạt. Khi đó, ông T mới làm nhà xong còn thiếu tiền công thợ nên ông T1 có đưa cho ông T 1.200.000đ tiền trả công cho thợ. Qúa trình ở cùng một thời gian thì ông T1 mối lái và cưới cho bà N một người đàn ông bị tâm thần, không có đăng ký kết hôn. Do không chung sống được với người mới cưới nên bà N quay về ngồi nhà ông T làm và ở cùng với gia đình ông T1. Ông T1 luôn ép bà N phải quay về ở với người đàn ông tâm thần, sống được 02 - 03 năm thì do quá cực khổ, bà N bỏ vào miền N tìm ông T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị L trình bày:
Chị L và anh Bùi Văn H (con trai ông Bùi Văn T1 và bà Bùi Thị Ẹ) kết hôn với nhau năm 2013. Sau khi kết hôn, chị về làm dâu sinh sống cùng gia đình anh H, ông T1. Qúa trình chung sống, ông T1, bà Ẹ giao lại quyền sử dụng đất tranh chấp hiện nay cho vợ chồng chị quản lý, sử dụng. Năm 2017 và 2020, vợ chồng chị thuê máy đập đá, san lấp mặt bằng, đào lại ao cá, xây dựng trang tại lợn. Đất đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng khi chuyển đổi giấy chứng nhận thì phát hiện là sai vị trí nên ông Tư lợi D để kiện tụng tranh chấp đất với gia đình chị.
Những người làm chứng gồm ông Bùi Văn N1, ông Bùi Văn V1, ông Bùi Văn V là những người hàng xóm sinh sống lâu năm quanh khu đất tranh chấp, ông Bùi Văn Ẻ là em rể họ ông T, ông Bùi Văn V2 nguyên là Chủ tịch UBND xã L (nay là xã V) đều xác nhận nguồn gốc đất tranh chấp là do bố mẹ ông Bùi Văn T là cụ Bùi Văn Ủ và cụ Bùi Thị H1 khai phá. Các đương sự xác nhận có việc ông Bùi Văn T đi làm ăn xa để bà Bùi Thị N ở lại trông nom nhà cửa, sau đó có gia đình ông Bùi Văn T1 đến ở cùng bà N. Ông N1, ông V1, ông V xác nhận bà N có làm đám cưới với một người đàn ông bị tâm thần, không chung sống được và lại phải quay về sống với gia đình ông T1. Một thời gian sau thì bà N vào miền N với ông Bùi Văn T.
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án xác định vị trí thửa đất tranh chấp tại xóm C, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Phần đất ở và đất vườn có diện tích 7.739,3m2 (thửa trích đo 251) và phần đất mặt nước ao có diện tích 1659,7m2, trước đây là hai cái ao và được thể hiện trên bản đồ năm 2005 là hai thửa (thửa 221 là 748,3m2 và thửa 239 là 911,4m2), hiện trạng sử dụng đã làm thành một ao. Tổng diện tích đất tranh chấp là 9.399m2 (có sơ đồ đo vẽ kèm theo). Tài sản trên đất do gia đình ông Bùi Văn T1 tạo lập gồm có 01 ngôi nhà sàn lợp ngói đỏ, diện tích 32,76m2 xây năm 2007; 01 ngôi nhà tạm xây gạch bị được làm năm 2020 và công trình phụ, giếng nước, chuồng trâu, bể nước cùng cây cối, hoa màu. Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ bổ sung thì trong quá trình giải quyết vụ án, các công trình nhà ở và công trình phụ không có thay đổi gì. Gia đình ông T1 có làm thêm phần bán mái ngôi nhà tạm với diện tích 20m2, mái lợp proximăng, không vách ngăn, làm hết 2.000.000đ; làm chuồng gà vị trí bên cạnh hết 3.000.000đ; diện tích khoảng một phần hai thửa đất trước đó trồng mía và hoa màu, nay được rào xung quanh và trồng ngô mới nảy mầm, công trồng và giống hết 5.000.000đ và hàng rào xung quanh chi phí 10.000.000₫.
Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã V xác định: Nguồn gốc đất tranh chấp do bố mẹ ông Bùi Văn T khai phá; Thửa đất không thuộc bất kỳ dự án sử dụng đất nào của chính quyền địa phương, của Nhà nước, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của xã là quy hoạch đất ở khu dân cư nông thôn. Khu vực xung quanh thửa đất tranh chấp có thửa đã được cấp giấy chứng nhận, có thửa chưa được cấp. Thửa đất tranh chấp nêu trên đã được đo đạc nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận do còn có tranh chấp.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông T1 cung cấp có số: O 816748, vào số 00520 cấp ngày 20/12/2000 mang tên hộ ông Bùi Văn T1 đối với thửa đất số 40a, tờ bản đồ số 1, diện tích 2.326m2 không phải vị trí đất tranh chấp, địa chỉ theo giấy chứng nhận ghi là xóm C nhưng hiện nay là xóm C (không phải là xóm Cành 2), không phải ông Bùi Văn T1 là bị đơn trong vụ án mà là của một hộ gia đình khác cũng tên Bùi Văn T1.
Bản án sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 09/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn đã quyết định:
Căn cứ Điều 5 Luật Đất đai năm 1987; điểm b Khoản 2 Điều 203 Luật đất đai 2013; Khoản 3 Điều 155; Khoản 1 Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Khoản 9 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147; Khoản 1 Điều 157; Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Văn T đối với ông Bùi Văn T1: Buộc ông Bùi Văn T1 có nghĩa vụ trả lại cho ông Bùi Văn T một phần trong diện tích đất 9.399m2 tại xóm C, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
Phần đất ở và đất vườn ông Bùi Văn T sử dụng có diện tích 3.871m2, tứ cận: Phía Đông giáp phần đất gia đình ông Bùi Văn T1 sử dụng; phía Tây giáp đất ông Bùi Văn V1 qua lối mòn đi xuống cánh đồng; phía Nam giáp đường liên thôn (rộng 49,21m); phía Bắc giáp ao (thửa 239). Phần đất ở và đất vườn gia đình ông Bùi Văn T1 sử dụng có diện tích 3.868,3m2, tứ cận: Phía Đông giáp đất hộ ông Bùi Văn P; phía Tây giáp phần đất ông Bùi Văn T; phía Nam giáp đường bê tông liên xóm (rộng 49,21m); phía Bắc giáp ao (thửa 221). Phần đất ao là thửa đất ao là thửa 221 giáp liền đất ông Bùi Văn T1 sử dụng có diện tích 748,3m2.
Buộc ông Bùi Văn T có nghĩa vụ thanh toán trả cho anh Bùi Văn H, chị Nguyễn Thị L giá trị giếng nước tại phần đất ông T sử dụng là 3.000.000đ. Anh Bùi Văn H, chị Nguyễn Thị L được quyền thu hoạch vườn ngô khi đến kỳ thu hoạch, có quyền tháo dỡ hàng rào, lưới nhựa xung quanh phần đất ông T được sử dụng,
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo.
Ngày 16/7/2024, bị đơn ông Bùi Văn T1 có đơn kháng cáo yêu cầu xem xét lại toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm.
Ngày 19/7/2024, nguyên đơn ông Bùi Văn T kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T và buộc gia đình ông Bùi Văn T1 di dời, tháo dỡ toàn bộ tài sản của ông T1 trên đất của ông T, các chi phí phát sinh do di dời, tháo dỡ ông T1 phải tự chi trả.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử đã tuân thủ đầy đủ quy định của bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình.
Về nội dung vụ án: Quyết định của cấp sơ thẩm là phù hợp; Đối với yêu cầu kháng cáo, của nguyên đơn, bị đơn là không có căn cứ, không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo; Đề nghị Hội đồng xét xử: Giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về phần buộc bị đơn ông Bùi Văn T1 có nghĩa vụ trả lại cho ông Bùi Văn T 4.782,4 m2 (trong đó 3.871,0 m2 đất ở và đất vườn + 911,4 m2 đất ao). Ông T1 tạm thời quản lý, sử dụng 4.616,6 m2 (trong đó 3.868,3 m2 đất ở và đất vườn + 748,3 m2 đất ao) tại xóm C, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình, có tứ cận theo sơ đồ phân chia chi tiết các tọa độ điểm mốc giới kèm theo bản án.
Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
Sau khi nghe các đương sự trình bày, căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được xem xét tại phiên toà, tranh luận của các đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa; xét kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng: Tranh chấp trong vụ án là tranh chấp Quyền sử dụng đất. Các đương sự đều cư trú tại huyện L, tỉnh Hòa Bình. Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ngày 09/7/2024, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vụ án. Ngày 16/7/2024, bị đơn ông Bùi Văn T1 kháng cáo bản án. Ngày 19/7/2024, ông Bùi Văn T kháng cáo bản án. Việc kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn đều trong thời hạn luật định nên việc kháng cáo là hợp lệ, được chấp nhận
[2] Về pháp luật áp dụng: Nguồn gốc đất do khai phá từ những năm 1970, các giao dịch liên quan phát sinh năm 1990 nên việc cấp sơ thẩm áp dụng Luật đất đai 1987 đối với các giao dịch này là có căn cứ. Tranh chấp phát sinh năm 2022 nên cấp sơ thẩm áp dụng Luật đất đai 2013 để giải quyết tranh chấp là đúng quy định pháp luật.
[3]. Về nội dung: Từ các tài liệu, chứng cứ và các lời khai trong hồ sơ vụ án đều khẳng định, nguồn gốc thửa đất tranh chấp do cụ Bùi Văn Ủ, cụ Bùi Thị H1 (là bố mẹ đẻ ông Bùi Văn T) khai phá mà có. Đất cho đến nay chưa có giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất.Cụ Ủ và cụ H1 có 05 người con là bà Bùi Thị C (đã chết), bà Bùi Thị T3, bà Bùi Thị B, ông Bùi Văn T, bà Bùi Thị N. Năm 1976 cụ Ủ chết, năm 1983 cụ H1 chết và đều không để lại di chúc. Sau khi hai cụ chết, đất đai và tài sản trên đất do ông Bùi Văn T quản lý sử dụng. Sau đó, các chị của ông T đều đi lấy chồng, chị có ông T và bà N sinh sống trên thửa đất. Năm 1988, ông T làm cho bà N 01 ngôi nhà kê ở thửa đất nêu trên để bà N ở và quản lý đất đai, còn ông vào miềm nam sinh sống. Năm 1990, ông T về thì thấy 08 người thuộc hộ gia đình ông Bùi Văn T1 (là cháu họ gọi ông T là chú) đến ở cùng bà N tại thửa đất của bố mẹ ông T để lại. Ông T có bảo ông T1 chuyển đi, nhưng do ông T1 xin ở lại một thời gian, nên ông T bảo ông T1 đưa cho ông T số tiền 1.200.000đ trả tiền công làm nhà để được ở lại, còn ông T1 khai rằng số tiền này là tiền ông T bán toàn bộ đất và tài sản trên đất của thửa đất nêu trên cho ông T1.
Năm 2022, ông T có đến yêu cầu gia đình ông T1 trả lại một phần thửa đất nhưng ông T1 không đồng ý. Ông T yêu cầu ông T1 và gia đình phải trả lại toàn bộ thửa đất của bố mẹ ông T để lại, các tài sản mà gia đình ông T1 tạo lập trên đất thì gia đình ông T1 tự phải tháo dỡ, di dời, ông T không chấp nhận bồi thường.Gia đình ông T1 không chấp nhận toàn bộ nội dung khởi kiện.
[4] Xét kháng cáo của các đương sự:
Đối với kháng cáo của nguyên đơn ông Bùi Văn T: Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đất đang tranh chấp có nguồn gốc từ cụ Bùi Văn Ủ và cụ Bùi Thị H1, là bố mẹ ruột của ông Bùi Văn T, khai phá từ những năm 1970. Đất này chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng việc khai phá và sử dụng đất ổn định đã tạo nên quyền thừa kế hợp pháp cho con cái của cụ Ủ và cụ H1. Theo các quy định tại Điều 650 và 651 Bộ luật Dân sự 2015; Khi cụ Ủ và cụ H1 chết không để lại di chúc, tài sản do các con của, trong đó có ông T và các chị, em ruột của ông T là hàng thừa kế thứ nhất được hường di sản, các chị và em ông đã tự nguyện từ bỏ quyền thừa kế để ông T được toàn quyền quản lý và sử dụng phần đất do cha mẹ để lại.
Quá trình điều tra, xác minh, thu thập các tài liệu có liên quan: Không có căn cứ xác định việc ông T và ông T1 có việc mua bán, chuyển nhượng, trao đổi nhà, đất. Mặc dù ông Bùi Văn T xác nhận có nhận số tiền 1.200.000đ vào năm 1990 với ông T1 nhưng không phải là tiền bán nhà, đất như ông Bùi Văn T1 trình bày, mà số tiền này do ông T yêu cầu ông T1 đưa cho để trả tiền công thợ làm nhà, vì ông T1 tự ý đưa gia đình, vợ các con đến ở, sinh sống và sử dụng nhà đất thuộc quyền quản lý của gia đình ông.
Quá trình sử dụng, gia đình ông Bùi Văn T1 có công quản lý, giữ gìn, tôn tạo thửa đất trong thời gian ông Bùi Văn T đi làm ăn xa. Điều 236 Bộ luật Dân sự 2015 bảo vệ quyền lợi của người chiếm hữu ngay tình, công khai, và liên tục, giúp đảm bảo quyền lợi sử dụng của ông T1 khi ông chiếm hữu, sử dụng đất trong suốt hơn 30 năm qua. Tuy nhiên, quyền lợi chiếm hữu và sử dụng của ông Bùi Văn T1 không thể thay thế hoàn toàn quyền thừa kế hợp pháp của ông Bùi Văn T. P1 bảo vệ quyền lợi của người chiếm hữu ngay tình, công khai và liên tục, nhưng chỉ đến mức độ nhất định, chứ không phải là quyền chiếm hữu tuyệt đối; Quyền lợi của ông T xuất phát từ quyền thừa kế cha mẹ để lại, và đây là quyền lợi hợp pháp được công nhận bởi pháp luật và cả gia đình. Việc ông T yêu cầu quyền quản lý một phần đất là hợp lý khi ông đã cho ông T1 sử dụng đất một cách thiện chí, nhưng sau đó phát sinh tranh chấp do ông T1 không muốn trả lại đất. Phương án chia đôi giúp ông T được hưởng quyền lợi từ di sản cha mẹ để lại, mà không phủ nhận công sức của ông T1.
Án cấp sơ thẩm quyết định việc phân chia rõ ràng phần đất để tạo điều kiện mỗi bên sử dụng đất hiệu quả. Ông T có quyền làm chủ một phần đất từ di sản thừa kế, trong khi ông T1 tiếp tục sử dụng phần đất mình đã cải tạo. Phương án này phù hợp với thực tiễn, thể hiện sự công bằng, không thiên vị, và cân nhắc kỹ đến cả quyền lợi hợp pháp và thực tế chiếm hữu của hai bên.
Việc ông Bùi Văn T kháng cáo yêu cầu Tòa án sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Văn T, buộc gia đình ông T1 trả lại thửa đất cho ông T và di dời, tháo dỡ toàn bộ tài sản của ông T1 trên đất của ông T, các chi phí di dời, tháo dỡ do ông T1 chịu, ông T không đồng ý bồi thường bất cứ khoản tiền nào, là không phù hợp, không được chấp nhận.
Đối với kháng cáo của ông Bùi Văn T1: Về việc yêu cầu xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bị đơn ông Bùi Văn T:
Do nguồn gốc thửa đất tranh chấp là của bố mẹ ông T khai phá, sau khi các cụ chết thì do ông T quản lý sử dụng. Năm 1998, ông T đi miền N, nà đất giao lại cho em gái ông T là bà Bùi Thị N quản lý; Gia đình ông T4 tự ý đến ở, dù sau này được ông T chấp nhận. Do không có căn cứ xác định giữa ông và ông T có việc mua bán, chuyển nhựng đất nhưng thời gian ông T1 và gia đình đến ở nhà, đất của ông T đã lâu, quá trình sinh sống gia đình ông T1 đã có công giữ gìn, tôn tạo thửa đất. Việc ông T yêu cầu quyền quản lý một phần đất là hợp lý khi ông đã cho ông T1 sử dụng đất một cách thiện chí, nhưng sau đó phát sinh tranh chấp do ông T1 không muốn trả lại đất. Do vậy, phương án chia đôi giúp ông T được hưởng quyền lợi từ di sản cha mẹ để lại, mà không phủ nhận công sức của ông T1. Tòa án cấp sơ thẩm khi đưa ra quyết định này cũng đã thể hiện sự công bằng, không thiên vị, và cân nhắc kỹ đến cả quyền lợi hợp pháp và thực tế chiếm hữu của hai bên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Bùi Văn T, và Bùi Văn T1 kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới, chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để điều tra xét xử lại là không có căn cứ, không được chấp nhận.
Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cần gữi nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm là có căn cứ; Hội đồng xét xử thấy rằng không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Bùi Văn T và ông Bùi Văn T1; Cần gữi nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 09/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.
[5].Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận, người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Bị đơn ông Bùi Văn T1 là người cao tuổi, được miễn nộp án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308; Khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn Bùi Văn T và kháng cáo của bị đơn ông Bùi Văn T1:
- Giữ nguyên quyết định Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2024/DS-ST ngày 09/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.
- Án phí phúc thẩm: Ông Bùi Văn T phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm, được đối trừ số tiền 300.000đ, ông T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí phúc thẩm số: 000234, ngày 26/7/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân dợ huyện lạc sơn, tỉnh Hòa Bình. Bị đơn ông Bùi văn T1 được miễn nộp án phí phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực từ ngày tuyên án (05/3/2025)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Túc |
Bản án số 07/2025/DS - PT ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 07/2025/DS - PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp QSD đất
