|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ TỈNH HÀ GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 07/2025/HS-ST Ngày 28 tháng 02 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Nguyễn Trung Kiên. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Ngọc Liên. |
| Ông Nguyễn Văn Ái. |
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Minh Hậu - Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang tham gia phiên toà: Ông Giàng Minh Lúa - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2025/TLST-HS, ngày 17 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Mã Xuân T; Tên gọi khác: Không, sinh ngày 15/12/1990, tại xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Số Căn cước công dân: [...]; cấp ngày 03/5/2023; nơi cấp Cục CSQLHC về trật tự xã hội Bộ C1. Tiền án, tiền sự: Không; Bố đẻ: Mã Văn N, sinh năm 1962 (đã chết); Mẹ đẻ: Hoàng Thị N1, sinh năm 1965; Vợ, con: không. Anh chị em ruột: Có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 30/8/2006 Mã Xuân T bị UBND huyện B, tỉnh Hà Giang đưa vào trường giáo dưỡng về hành vi Trộm cắp tài sản theo Quyết định số 1104 ngày 30/8/2006 thời gian là 24 tháng kể từ ngày 30/8/2006, đã thi hành xong.
Bị cáo đang bị tạm giam theo Quyết định tạm giam số 08/2025/HSST-QĐTG, ngày 17/01/2025, của Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê; Có mặt.
Bị hại: ông: Nguyễn Văn B, SN 1957; Nơi cư trú: Thôn N, xã K, huyện V, tỉnh Hà Giang (có mặt).
Người làm chứng: Bà Hoàng Thị N1, sinh năm 1965; anh Nông Văn L, sinh năm 1982; chị Đặng Thị M, sinh năm 1990; chị Mã Thị Y, sinh năm 1988 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 06/10/2024 bị cáo T ngồi uống bia với Nông Văn M1 tại quán nhà Khởi Q thuộc thôn Bản Loan hai người uống hết khoảng 4 lít bia hơi, sau đó bị cáo mua thêm 05 lít bia cho vào can và bảo M1 chở xuống nhà (H). Khi xuống đến nhà Mã Văn C (chủ nhà) còn có Mã Văn P con trai C, Giàng Thị X con dâu và Mã Văn T1 là hàng xóm đang chuẩn bị ăn cơm gia đình nên C đã mời bị cáo ăn cơm cùng, tại đây những người trên uống hết 05 lít bia, sau đó T1 gọi điện mua thêm 02 lít bia hơi và cùng nhau uống đến khoảng hơn 14 giờ cùng ngày thì hết số bia trên, sau đó bị cáo một mình đi bộ lên nhà mẹ đẻ là Hoàng Thị N1. Khi đến nơi bị cáo gặp chị Mã Thị Y là chị gái ruột của bị cáo, sau đó giữa bị cáo và Y xảy ra cãi nhau liên quan đến việc ông Nguyễn Văn B thường hay nói xấu bị cáo với hàng xóm xung quanh, trong lúc bị cáo đang cãi nhau với chị Y, thì ông B đi đến gần và chỉ tay về phía mặt của bị cáo và nói “say rượu rồi thì đi về nhà đi”, do bực tức nên bị cáo chỉ tay vào mặt ông B nói “ông đừng có nói nhiều”, thấy hai người nói chuyện to tiếng, Y can ngăn và đẩy bị cáo về. Khi về đến nhà do vẫn bực tức về việc ông B thường hay nói xấu mình, nên bị cáo đi vào trong nhà lấy 01 con dao nhọn bằng kim loại, đi lên nhà bà N1 mục đích tìm ông B, đe doạ ông Bằng K được tiếp tục xúi giục mẹ của bị cáo nói xấu bị cáo và ngăn cản mẹ bị cáo chia đất cho bị cáo. Khi lên đến nơi thì thấy Y đang ở nhà, còn ông B đang đứng ở gần Y. Phát hiện bị cáo T cầm dao trên tay, Y ngăn cản không cho bị cáo T đi vào nhà và dùng tay giật con dao trên tay bị cáo làm dao rơi xuống đất. Tiếp đó bị cáo T đẩy Y ra và dùng tay trái nhặt dao chạy về phía ông B, do sợ bị đánh ông B chạy về phía tổ thợ đang xây nhà ở gần đó, bị cáo T tiếp tục cầm dao đuổi theo và nói to “hôm nay tôi sẽ đánh ông” khi đuổi kịp ông B, bị cáo T dùng chân đạp vào đùi sau của ông B làm ông B ngã xuống đất. Thấy vậy, bị cáo lao tới ngồi đè lên người ông B và cầm dao đâm ông B. Hai người giằng co được khoảng 03 phút thì mũi dao của bị cáo T đâm trúng vào cẳng tay phải của ông B làm rách da chảy máu. Cùng lúc đó có anh Nông Văn L và chị Đặng Thị M đang thi công nhà sàn bê tông ở gần đó chạy vào can ngăn giật con dao từ tay của bị cáo ném xuống nền đất, đồng thời can ngăn không cho bị cáo và ông B đánh nhau. Do vết thương ở tay ông B chảy nhiều máu nên ông B đã đến trạm y tế xã Y để điều trị.
Ngày 07/10/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B ra Quyết định trưng cầu giám định số 270 để xác định tỷ lệ phần trăm sức khỏe của Nguyễn Văn B. Ngày 14/10/2024 Trung tâm giám định pháp y tỉnh H có Bản kết luận giám định pháp y thương tích số 170/KLTT-TTPY kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương trên cơ thể của Nguyễn Văn B tại thời điểm giám định là 02% (hai phần trăm) căn cứ bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y1.
Cơ chế hành thành vết thương như sau: Vết thương 1/3 trên mặt sau cẳng tay phải: do vật có cạnh sắc tác động với một lực vừa hoặc có vật cản, hướng dọc theo trục cẳng tay, từ trên xuống dưới gây nên rách da, không tổn thương xương.
3
Ngày 08/11/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ra Quyết định trưng cầu giám định số 335/QĐ-CSĐT, giám định AND đối với mẫu nghi máu thu được tại hiện trường, thu tại áo ông Nguyễn Văn B và mẫu trên thân dao gửi V. Tại bản Kết luận số 622/24/KLGDADN-PYQG, của V ngày 20/11/2024 kết luận: Thử định tính nhanh vết máu người trên mẫu gửi giám định ký hiệu A1 (mẫu phết trên bề mặt dao), A2, A3: Dương tính. AND thu từ mẫu gửi giám định ký hiệu A1 (mẫu phết trên bề mặt dao), A2, A3 trùng khớp với AND của Nguyễn Văn B trên các locus STR đã so sánh.
Tại Bản cáo trạng số 06/CT-VKSBM ngày 16/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang đã truy tố bị cáo Mã Xuân T về tội Cố ý gây thương tích, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Mã Xuân T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Mã Xuân T phạm tội "Cố ý gây thương tích". Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Mã Xuân T từ 07 đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để tạm giam ngày 06/11/2024.
Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 (một) hộp carton (cát tông) bên trong có 01 con dao nhọn bằng kim loại dạng dài: 41cm, cán dao được làm bằng gỗ có kích thước dài: 12cm, bản rộng nhất 4cm, trên thân dao phát hiện có vết bám dính chất màu đỏ (nghi máu). 01 (một) hộp cát tông bên trong có 01 áo ngắn tay, không có cổ, màu trắng (áo cũ, trên thân áo có nhiều vết hoen ố màu đen), tại phần đầu ống tay áo bên phải có đám chất màu nâu (nghi máu), phần vai áo bên trái có vết rách cũ.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên Tòa bị hại Nguyễn Văn B không đề nghị bị cáo phải bồi thường nên đề nghị hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14; khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như đã nêu trong bản cáo trạng. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại; lời khai của người làm chứng; biên bản xác định hiện trường; sơ đồ và bản ảnh xác định hiện trường; biên bản xác minh và các vật chứng, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Bị cáo nói lời sau cùng bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
4
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên Tòa vắng mặt toàn bộ những người làm chứng không có lý do. Xét thấy bị cáo, bị hại, Kiểm sát viên đồng ý xét xử vắng mặt. Trong hồ sơ đã có lời khai đầy đủ việc vắng mặt của những người trên không ảnh hưởng tới việc giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung mà không hoãn phiên tòa.
[2] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Bị cáo Mã Xuân T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được rằng sức khỏe của con người là vô cùng quý giá không gì thay thế được và được Nhà nước ghi nhận, pháp luật bảo vệ, ai xâm phạm sẽ bị pháp luật nghiêm trị. Tuy nhiên do có mâu thuẫn cá nhân với ông Nguyễn Văn B từ trước nên khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 06/10/2024 tại khu vực bãi đất trống đang xây dựng nhà sàn của gia đình bà Hoàng Thị N1 thuộc thôn Bản Loan, xã Y, huyện B, bị cáo Mã Xuân T đã có hành vi dùng 01 con dao nhọn bằng kim loại đâm vào cánh tay phải của ông Nguyễn Văn B gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là: 2% (Hai phần trăm). Như vậy, việc bị cáo dùng dao là hung khí nguy hiểm (được quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự) để gây thương tích đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” như đã viện dẫn ở trên.
[3] Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người bị hại, lời khai người làm chứng, kết luận giám định pháp y, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 06/10/2024, bị cáo T đã dùng dao đâm vào cánh tay phải của ông Nguyễn Văn B với gây tổn thương cơ thể ông B. Hành vi của bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội: Cố ý gây thương tích theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự quy định như sau:
Điều 134: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định.
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
5
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
...
[4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc định tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ nên Hội đồng xét xử ghi nhận để xem xét.
[5] Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo: Hội đồng xét xử thấy rằng, hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, coi thường pháp luật, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi bị cáo biết rằng việc trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác là vi phạm pháp pháp luật và được pháp luật hình sự bảo vệ, bị pháp luật xử lý nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Xét về động cơ, mục đích bị cáo đã bất chấp pháp luật, bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm là 01 con dao, hậu quả gây thương tích cho bị hại. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây mất trật tự trị an và gây bất bình trong quần chúng nhân dân tại địa phương. Do đó, hành vi này cần phải được xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù trong một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện, sống biết tuân thủ pháp luật, đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
[6] Về nhân thân, bị cáo có nhân thân xấu ngày Ngày 30/8/2006 bị cáo đã bị UBND huyện B, tỉnh Hà Giang đưa vào trường giáo dưỡng về hành vi Trộm cắp thời gian là 24 tháng, sau khi bị cáo chấp hành xong và rời khỏi trường giáo dưỡng trở về địa phương sinh sống, bị cáo không lấy đó làm bài học cho mình để tu dưỡng đạo đức và bản thân để trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội mà bị cáo vì mâu thuẫn cá nhân mà cố ý phạm tội.
[7] Quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trên cơ sở cân nhắc đầy đủ và toàn diện tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo không có. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận và quyết định mức hình phạt theo đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát.
[8] Từ những căn cứ trên mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
[09] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án bị hại ông Nguyễn Văn B không yêu cầu bị cáo bồi thường, cần ghi nhận.
6
[10] Về vật chứng của vụ án: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đối với 01 (một) hộp carton (cát tông) bên trong có 01 con dao nhọn bằng kim loại dạng dài: 41cm, cán dao được làm bằng gỗ có kích thước dài: 12cm, bản rộng nhất 4cm, trên thân dao phát hiện có vết bám dính chất màu đỏ (nghi máu) và 01 (một) hộp cát tông bên trong có 01 áo ngắn tay, không có cổ, màu trắng (áo cũ, trên thân áo có nhiều vết hoen ố màu đen), tại phần đầu ống tay áo bên phải có đám chất màu nâu (nghi máu), phần vai áo bên trái có vết rách cũ. Do không còn giá trị xử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[12] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, thuộc hộ nghèo, có đơn đề nghị miễn án phí nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14; khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để miễn án phí cho bị cáo.
[13] Quyền kháng cáo: Bị cáo, Bị hại có quyền kháng cáo bản án quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mã Xuân T phạm tội Cố ý gây thương tích.
2. Hình phạt: Căn cứ vào điểm a, khoản 1, Điều 134; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mã Xuân T 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để tạm giam ngày 06/11/2024.
3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại ông Nguyễn Văn B không yêu cầu bị cáo bồi thường.
4. Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, tiêu huỷ 01 (một) hộp carton (cát tông) bên trong có 01 con dao nhọn bằng kim loại dạng dài: 41cm, cán dao được làm bằng gỗ có kích thước dài: 12cm, bản rộng nhất 4cm, trên thân dao phát hiện có vết bám dính chất màu đỏ (nghi máu) và 01 (một) hộp cát tông bên trong có 01 áo ngắn tay, không có cổ, màu trắng (áo cũ, trên thân áo có nhiều vết hoen ố màu đen), tại phần đầu ống tay áo bên phải có đám chất màu nâu (nghi máu), phần vai áo bên trái có vết rách cũ.
(Tình trạng như trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 09 giờ 30 phút ngày 21/01/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Mê).
5. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miến án phí cho bị cáo.
6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Bị cáo, Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
7
7. Về điều kiện thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trung Kiên |
Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 07/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản án
