|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 07/2025/DS-ST Ngày: 27-02-2025 V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Ngọc Linh.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Xuân Nhi, ông Nguyễn Văn Được.
- - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Bùi Hoàng Long – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Huê – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 168/2024/TLST-DS, ngày 25 tháng 6 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2025/QĐST-DS ngày 24 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm: 1960; Địa chỉ nơi cư trú: Ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
Đại diện theo ủy quyền của bà C: Ông Nguyễn Đức V, sinh năm: 1977; Địa chỉ nơi cư trú: khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (vắng mặt, có đơn xin vắng).
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1984; Địa chỉ nơi cư trú: Ấp H, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các bản lời khai đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Đức V trình bày: Do quen biết nên bà Nguyễn Thị C có cho bà Nguyễn Thị T vay tiền nhiều lần, cụ thể:
- - Ngày 23/12/2022, bà C cho bà T cho vay số tiền: 1.200.000.000 đồng (một tỷ hai trăm triệu đồng).
- - Ngày 04/01/2023, bà C cho bà T cho vay số tiền: 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).
- - Ngày 11/01/2023, bà C cho bà T cho vay số tiền: 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).
Tổng số tiền bà C cho bà T vay là: 1.350.000.000 đồng (một tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng).
Bà T vay tiền của bà C để kinh doanh buôn bán, lãi suất của 03 lần vay đều thỏa thuận (miệng) 2%/ tháng, thời hạn vay là 01 tháng. Khi vay thì bà T có thế chấp cho bà C 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số: 107, tờ bản đồ số: 39, diện tích: 10.474,8m² (không làm hợp đồng thế chấp). Quyền sử dụng đất là tài sản của bà T. Bà T là người viết giấy vay tiền và ký nhận. Bà C đã giao đủ số tiền đã vay cho bà T. Từ khi vay cho đến nay bà T không trả tiền nợ gốc và tiền lãi cho bà C. Đến hạn trả tiền bà C đã nhiều lần yêu cầu bà T phải trả tiền cho bà C nhưng bà T không thực hiện.
Nay bà Nguyễn Thị C yêu cầu Tòa nhân dân thành phố Đ giải quyết buộc bà Nguyễn Thị T phải trả cho bà Nguyễn Thị C số tiền nợ gốc đã vay là 1.350.000.000đ (một tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng) và lãi suất chậm trả của số tiền 1.200.000.000 (một tỷ hai trăm triệu đồng) đồng là 10%/năm tính từ ngày 24/01/2023 (ngày vi phạm nghĩa vụ trả tiền) cho đến ngày trả tiền.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh vắng M trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên không có lời trình bày:
Ý kiến của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa:
- - Về thủ tục tố tụng: Vụ án có vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán tiến hành các thủ tụng tố tụng đúng theo quy định của pháp luật, việc xác định tư cách đương sự và quan hệ pháp luật đang tranh chấp là chính xác, phiên tòa thực hiện đúng theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị C khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài buộc bà Nguyễn Thị T phải trả số tiền nợ gốc đã vay là: 1.350.000.000 đồng và lãi suất. Đây là tranh chấp dân sự về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn bà T có địa chỉ nơi cư trú tại Ấp H, xã T, thành phố Đ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân thành phố Đ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa vắng mặt ông V, bà T. Ông V đã có đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt hợp lệ. Bà T vắng mặt không có lý do. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử... Tuy nhiên bà T vẫn không đến làm việc và không tham gia phiên tòa. Việc bà T vắng mặt tại phiên tòa là tự mình từ bỏ quyền lợi của mình nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
[2] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 23 tháng 12 năm 2022, bà C cho bà T vay tiền, thời hạn vay là 01 tháng. Theo quy định tại Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015 thì “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.” Ngày 04 tháng 6 năm 2024, bà C nộp đơn khởi kiện là còn thời hiệu khởi kiện.
[3] Về nội dung vụ án: Bà C yêu cầu bà T phải trả số tiền nợ gốc đã vay là: 1.350.000.000 đồng và lãi suất. Yêu cầu này được chứng minh bởi “Giấy mượn tiền” của ngày 23 tháng 12 năm 2022, 04 và 11 tháng 01 năm 2023 giữa bà C và bà T. Bà T là người viết giấy vay tiền và ký nhận. Bà T có thế chấp cho bà C 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số: 107, tờ bản đồ số: 39, diện tích: 10.474,8m² (không làm hợp đồng thế chấp).
Mặt khác, bà T đã nhận được thông báo thụ lý vụ án của Tòa án về yêu cầu khởi kiện của bà C, tuy nhiên bà T không có ý kiến phản hồi. Từ những phân tích, đánh giá trên và căn cứ vào các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định yêu cầu khởi kiện của bà C là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về lãi suất: Bà C yêu cầu bà T phải trả lãi suất chậm trả của số tiền 1.200.000.000 (một tỷ hai trăm triệu đồng) đồng là 10%/năm tính từ ngày 24/01/2023 (ngày vi phạm nghĩa vụ trả tiền) cho đến ngày trả tiền. Do yêu cầu trả tiền nợ gốc được Hội đồng xét xử chấp nhận nên yêu cầu tính lãi suất (phù hợp với quy định của pháp luật) được Hội đồng xét xử chấp nhận. Vì vậy, lãi suất được tính như sau: 1.200.000.000 đồng x 10%/năm x 25 tháng 02 ngày (từ ngày 24 tháng 01 năm 2023 đến ngày 27 tháng 02 năm 2025) = 240.666.600 đồng.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Bà C không phải chịu án phí. Bà T phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Áp dụng khoản 3 Điều 26; Điều 35, Điều 39, Điều 147, 227, 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Áp dụng khoản 2 Điều 357, Điều 429, Điều 463, khoản 5 Điều 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/20016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C.
Bà Nguyễn Thị T phải trả cho bà Nguyễn Thị C số tiền nợ gốc đã vay là: 1.350.000.000 đồng, tiền lãi là: 240.666.600 đồng, tổng cộng là: 1.590.666.600 đồng (một tỷ năm trăm chín mươi triệu, sáu trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm đồng).
Từ ngày 28 tháng 02 năm 2025, bà Nguyễn Thị T còn tiếp tục phải trả tiền lãi cho bà Nguyễn Thị C là: 10%/ năm trên số tiền nợ gốc chưa trả cho đến khi thanh toán xong nợ gốc.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các đương sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí là: 59.720.000 đồng (năm chín triệu, bảy trăm hai mươi nghìn đồng).
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Ngô Ngọc Linh |
Bản án số 07/2025/DS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 07/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án dân sự
