Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ GIA MẬP

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 07/2025/HS-ST

Ngày 27 - 02 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Ly

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Hùng, bà Nguyễn Thị Mùa

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Kim Đức – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Kiểm sát viên

Trong ngày 27 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

  1. Điểu Thắng, sinh năm 2005, tại tỉnh Bình Phước; nơi cư trú: Thôn D, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn 6/12; dân tộc: Xtiêng; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin Lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Điểu K và bà Thị C; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2024 cho đến nay; “có mặt”.
  2. Điểu V, sinh năm 1998, tại: Bình Phước; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Xtiêng; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Điểu L và bà Thị G; bị cáo có vợ tên Thị H và 02 người con sinh năm 2017 và năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2024 cho đến nay; “có mặt”.
  3. Điểu Thiên, sinh ngày 25/3/2008, tại: Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; nơi cư trú: Thôn D, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Xtiêng; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin Lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Điểu N và bà Điểu Thị B; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2024 cho đến nay; “có mặt".

* Người bào chữa cho bị cáo Điểu T, Đ: Ông Nguyễn Sỹ T1– Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B “có mặt”

* Người bào chữa cho bị cáo Điểu T2: Ông Phạm Văn H1 – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B “có mặt”

* Người làm chứng: Ông Bùi Văn Đ, sinh năm: 1956, nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước “vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 21/11/2024, Điểu T2, Điểu T đang ngồi uống nước tại quán cà phê ở khu vực thôn D, xã Đ, huyện B thì Điểu V đi đến rủ T2, T góp tiền để mua ma túy về cùng nhau sử dụng thì cả hai đồng ý. Do T2, T không có tiền nên V lấy 300.000 đồng đưa cho T, T cầm lấy tiền rồi T2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 93H1-302.34 chở T đi đến thị xã P, tỉnh Bình Phước để mua ma túy. Khi đi đến khu vực gần Nghĩa trang L1 thuộc phường S, thị xã P thì T2 dừng xe lại để T đi bộ vào đường H gặp một đối tượng nữ giới (không rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua 300.000 đồng ma túy thì đối tượng này nói “còn 400.000 đồng mua luôn cho chị”, T đồng ý và lấy thêm 100.000 đồng đưa cho đối tượng này để mua hết số ma túy. Đối tượng này lấy 02 đoạn ống hút nhựa màu đen, hàn kín 02 đầu bên trong chứa chất ma túy đưa cho T, T cầm lấy rồi để 02 đoạn ống hút nhựa màu đen, hàn kín 02 đầu bên trong chứa chất ma túy vào trong bao thuốc lá hiệu Thăng Long, sau đó cất giấu vào trong túi quần phía trước bên phải rồi đi ra ngồi lên xe để T2 chở về thôn D, xã Đ. Khi đi đến thôn T, xã P, huyện B thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật gồm: 02 đoạn ống hút nhựa màu đen, hàn kín 02 đầu bên trong chứa chất ma túy và xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển kiểm soát 93H1-302.34 để phục vụ công tác điều tra.

Cùng ngày 21/11/2024, Điểu V đã đến cơ quan Công an đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Theo Kết luận giám định số: 1269 ngày 26/11/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B thì tinh thể màu trắng (ký hiệu M) có trong hai ống hút nhựa màu đen được niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine có khối lượng 0,3403gam. Mẫu vật hoàn lại 0,2083 gam được cho vào 01 gói nylon miệng khóa miết, vỏ gói chứa mẫu được cho lại vào phong bì, dán kín bên ngoài.

Bản Cáo trạng số 05/CTr-VKS ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước truy tố các bị cáo Điểu T2, Điểu T, Điểu V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Điểu T từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
  • - Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Điểu V từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
  • - Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Điểu T2 từ 24 tháng đến 30 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,2083 gam Methamphetamin hoàn lại sau giám định.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo Điểu T2, Điểu T, Điểu V khai nhận đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy theo đúng nội dung Cáo trạng đã truy tố. Nay các bị cáo đã nhận biết hành vi của mình là trái pháp luật, xin Hội đồng xét xử xử bị cáo một mức án thấp để bị cáo có cơ hội sửa sai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo: Xét thấy các chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản người phạm tội ra đầu thú; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phù hợp về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, vật chứng của vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Do muốn có ma tuý để sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu của bản thân, nên ngày 21/11/2024, Điểu V rủ Điểu T, Điểu T2 góp tiền đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng thì cả hai đồng ý. Do T2 và T không có tiền, nên V lấy 300.000 đồng đưa cho T. T cầm lấy tiền rồi T2 điều khiển xe mô tô chở T đến khu vực Nghĩa trang L1 thuộc phường S, thị xã P mua 0,3403 gam ma tuý loại Methamphetamine từ một đối tượng nữ giới không rõ nhân thân lai lịch với số tiền 400.000 đồng. Sau khi mua được ma túy T2, T quay về xã Đ, khi đi đến thôn T, xã P, huyện B thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.

Đối chiếu với hành vi nêu trên của các bị cáo so với quy định của pháp luật thì hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bởi chất Methamphetamine là loại chất nghiện do Nhà nước độc quyền quản lý, nhưng bị cáo lén lút mua về tàng trữ để sử dụng, thể hiện thái độ không tôn trọng pháp luật. Hành vi của bị cáo tạo tiền đề phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác, gây mất trật tự trị an xã hội.

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do muốn có ma túy để sử dụng nên bị cáo đã cố ý thực hiện việc phạm tội. Do đó cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng nhằm răn đe, trừng trị, giáo dục đối với bị cáo và cũng để giáo dục, phòng ngừa chung trong xã hội.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Điểu V là người rủ hai bị cáo T, T2 mua ma tuý về sử dụng, còn bị cáo T và T2 là người trực tiếp đi mua ma tuý, do đó các bị cáo có vai trò ngang nhau trong vụ án.

Tuy nhiên cần xem xét đối với từng bị cáo: các bị cáo Điểu T, Điểu V, Điểu T2 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Đối với Điểu V có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là đầu thú quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo Điểu T2 khi phạm tội mới 16 tuổi nên áp dụng các quy định đối với người chưa thành niên để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo Điểu V, Điểu T từ 24 tháng đến 30 tháng tù là đúng quy định pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận; tuy nhiên có phần hơi nghiêm khắc so với Điểu T2 do bị cáo là người chưa thành niên.

Đối với đề nghị của người bào chữa cho các bị cáo Điểu T, Điểu V đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng áp dụng cho hai bị cáo mức hình phạt tù nhẹ trong phạm vi hình phạt của Viện kiểm sát đề xuất do ngoài các tình tiêt giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã nêu trên thì các bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, là người dân tộc thiểu số nhận thức pháp luật kém. Người bào chữa cho bị cáo Điểu T2 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo mức hình phạt tù bằng mức thấp nhất của Viện kiểm sát đề xuất do ngoài các tình tiêt giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như của bị cáo T, V đã nêu trên thì bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi khi phạm tội. Xét đề nghị của người bào chữa cho các bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Xét về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo không có công việc ổn định, thu nhập thấp, do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Đối với đối tượng nữ giới bán ma tuý cho Điểu T, Điểu T2; quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an huyện B không có căn cứ để điều tra, xử lý, nên không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển kiểm soát 93H1-302.34; quá trình điều tra xác định là của bà Điểu Thị B (mẹ của Điểu T2) đứng tên chủ sở hữu. Ngày 21/11/2024, T2 sử dụng chiếc xe này làm phương tiện đi mua ma túy thì bà B không biết. Do đó, ngày 16/01/2025 Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã ra quyết định xử lý vật chứng và trả lại xe cho bà B, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 0,2083 gam Methamphetamin hoàn lại sau giám định là vật chứng vụ án, nên cần tịch thu, tiêu huỷ.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ Điều 106, Điều 260, Điều 329, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

  1. Tuyên bố các bị cáo Điểu T, Điểu T2, Điểu V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
    • - Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015.
    • Xử phạt bị cáo Điểu T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 21/11/2024.
    • - Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015.
    • Xử phạt bị cáo Điểu V 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 21/11/2024.
    • - Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015.
    • Xử phạt bị cáo Điểu T2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 21/11/2024.
  2. Quyết định tạm giam các bị cáo để đảm bảo thi hành án.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Tịch thu tiêu hủy 0,2083 gam Methamphetamin (hoàn lại sau giám định).

    (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 0008929 ngày 21/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập)

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo Điểu T, Điểu T2, Điểu V, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
  5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - Công an, VKSND huyện Bù Gia Mập;
  • - Chi cục THADS huyện Bù Gia Mập;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: HSVA, TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hải Ly

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 07/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger