Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN THỦY

TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HS-ST

Ngày: 26/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Trung Nghĩa

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Bùi Thị Phi

Ông Nguyễn Mộng Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hạnh, Thư ký viên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Liên, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Hà Văn L; Sinh ngày 23/7/1996, T gọi khác: Không, Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Bản X, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 10/12. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): không; Con ông Hà Văn T1 và bà Hà Thị T2 (đã chết) có vợ là Cà Thị D và 01 con; Tiền án; Tiền sự: không. Bị cáo Hà Văn L bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2023 cho đến nay. (Có mặt tại phiên tòa).

    Người bào chữa cho bị cáo:

    Ông Vũ Đình H (Có mặt tại phiên tòa).

    Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm TGPL Nhà nước tỉnh H

  2. Trần Văn M; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 05 tháng 09 năm 1991; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Tiểu khu C, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Chức vụ ( Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Tiền án, tiền sự: Không, con ông Nguyễn Văn S (Đã chết) và bà Trần Thị L1 có vợ là Nguyễn Thị T3 và có 02 con. Bị cáo Trần Văn M đang được áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/12/2024 đến nay tại thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La. (Có mặt tại phiên tòa).

2/ Người bị hại:

  • + Bà Quách Thị T4, sinh năm 1962 (đã chết)
  • Địa chỉ: Xóm B, xã N, huyện Y, tỉnh Hòa Bình
  • - Người đại diện hợp pháp của bà Quách Thị T4:
  • Anh Quách Xuân T5, sinh năm 1987 (Có mặt)
  • Địa chỉ: Xóm D, xã N, huyện Y, tỉnh Hòa Bình
  • + Bà Quách Thị C, sinh năm: 1967 (Có mặt)
  • Địa chỉ: Xóm B, xã N, huyện Y, tỉnh Hòa Bình

3/ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Chị Nguyễn Thị T3, sinh năm: 1997 (Có mặt)
  • Địa chỉ: Thôn Y, xã Y, TP T, tỉnh Ninh Bình
  • + Ông Hoàng Văn Đ; sinh năm: 1967 (Có mặt)
  • Địa chỉ: Xóm B, xã N, huyện Y, tỉnh Hòa Bình

4/ Người làm chứng:

  • + Anh Nguyễn Văn T6; sinh ngày 18/6/2006 (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Tổ G, phường T, TP T, tỉnh Ninh Bình
  • Người đại diện hợp pháp là ông Nguyễn Văn C1 bố đẻ anh T6 (Vắng mặt)
  • + Bà Đoàn Thị L2, sinh năm: 1989 (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Xóm B, xã N, huyện Y, tỉnh Hòa Bình

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 2/2023 Trần Văn M và vợ là Nguyễn Thị T3 thuê Hà Văn L, sinh năm 1996 trú tại bản Xum, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La về làm thuê với công việc là đi theo xe tải của gia đình để phụ xe và bốc vác hàng hóa. Quá trình làm việc M biết L có giấy phép lái xe ô tô hạng B2 và biết L có thể điều khiển được xe ô tô tải của gia đình nên tin tưởng và đã nhiều lần giao xe cho L điều khiển mặc dù xe ô tô tải của gia đình M phải có giấy phép lái xe ô tô hạng C mới đủ điều kiện điều khiển. Vào khoảng 6 giờ sáng ngày 28/8/2023 M đã giao chiếc xe ô tô BKS: 35H-019.50 cho L một mình điều khiển đi từ thành phố T, tỉnh Ninh Bình lên huyện M, tỉnh Sơn La để bốc hàng hóa rồi chở về tỉnh Thái Bình để giao hàng (L không có giấy phép lái xe theo quy định), còn M sẽ cùng Nguyễn Văn T6 lên sau. Đến khoảng 14 giờ chiều khi Hà Văn L điều khiển xe lên đến thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La thì M có gọi điện bảo L lái xe đi bốc hàng, khi bốc xong M tiếp tục gọi điện bảo L điều khiển xe đi về tỉnh Thái Bình để giao hàng thì L đồng ý. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày khi đi đến địa phận huyện Y, tỉnh Sơn La, lúc này cả 2 xe gặp nhau và dừng lại thì M có bảo T6 sang xe để về cùng với L. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày khi L đang điều khiển xe ô tô trên đi đến Km 30+500 đường Quốc lộ 12B thuộc địa phận xóm B, xã N, huyện Y, tỉnh Hòa Bình thì có quan sát về phía trước bên trái cách vị trí của L khoảng 20 mét có xe mô tô BKS: 28F1-174.56 do bà Quách Thị C, sinh năm 1967 điều khiển chở sau là bà Quách Thị T4, sinh năm 1962 cùng trú tại xóm B, xã N, huyện Y, tỉnh Hòa Bình đang chuyển động từ mép đường bên trái sang bên phải đường. Thấy vậy thì L có đạp phanh và đánh lái sang bên phải để tránh nhưng do khoảng cách gần không làm chủ được tốc độ nên đã đâm vào xe mô tô do bà C điều khiển dẫn đến tai nạn giao thông. Hậu quả: Quách Thị T4 tử vong, Quách Thị C bị thương tích, hai phương tiện hư hỏng. Ngay sau khi tai nạn xảy ra Cơ quan Công an đã tiến hành kiểm tra nồng độ cồn và chất ma túy đối với người điều khiển xe ô tô Hà Văn L cho kết quả: Trong hơi thở của L không có nồng độ cồn và âm tính với chất ma túy

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:

Hiện trường sảy ra tai nạn tại Km 30+500 đường QL12B thuộc địa phận xóm B, xã N, đoạn đường thẳng, mặt đường phẳng. Đo tại vị trí va chạm (A) đường có chiều rộng là 6m50. Đo từ vị trí vạch kẻ sơn đứt đoạn giữa đường vào mép đường chuẩn là 3m30, ở bên trái đường theo hướng Y đi Nho Quan có 01 đường nhánh vào nhà máy X có cổ đường rộng 9m15. Ở bên phải đường theo hướng Y đi Nho Quan có 01 đường nhánh có cổ đường rộng 24m40 đi vào xóm B. Cách vị trí điểm va chạm (A) về hướng Yên Thủy 92m30 có 01 biển báo hiệu đường giao nhau với đường không ưu tiên nằm bên phải theo hướng Y đi N.

Điểm mốc được xác định tại hiện trường là cột H5/30 nằm bên phải theo hướng Y - N. Lấy mép đường bên phải hướng Y - N làm mép đường chuẩn để đo đến vị trí các dấu vết và phương tiện.

Về phương tiện:

  • + Xe ô tô biển kiểm soát 35H-019.50 trước khi tai nạn xảy ra do Hà Văn L điều khiển, sau khi xảy ra tai nạn đã được lái xe điều khiển ra đỗ tại đường nhánh bên phải đường quốc lộ 12B hướng đi vào xóm B. Đo từ bánh xe phía sau bên trái đến vị trí điểm chạm (A) là 25m65
  • + Xe mô tô biển kiểm soát 28F1-174.56 trước khi xảy ra tai nạn do Quách Thị C điều khiển, sau khi tai nạn xảy ra xe ô tô đổ nghiêng bên phải trên phần đường bên trái theo hướng Y - N. Đầu xe quay về hướng N. Đo từ trục bánh trước vào mép đường chuẩn là 30cm. Đo từ trục bánh sau vào mép đường chuẩn là 26cm.

Về các dấu vết trên hiện trường:

  • + Vết mài trượt lốp và lốc đất kí hiệu số (1) nằm ở bên phải đường theo hướng Y - Nho Quan vết có chiều hướng Y - N. Đo từ điểm đầu vào mép đường chuẩn là mép đường, đo từ điểm cuối vào mép đường chuẩn là 2m20. Vết số (1) có kích thước 9m90x30cm. Khoảng cách từ đầu vết số (1) đến vết số (2) là 3m20cm.
  • + Vết mài trượt lốp màu đen ký hiệu số (2) nằm ở bên phải đường theo hướng Y - Nho Quan vết có chiều hướng Y - N. Đo từ điểm đầu vào mép đường chuẩn là 1m20; đo từ điểm cuối vào mép đường chuẩn là 28cm. Có diện là 2,5x6m38cm.
  • + Từ những dấu vết để lại trên hiện trường và phương tiện xác định điểm va chạm nằm trên khoảng không chiếu đứng vuông góc xuống mặt đường kí hiệu (A) nằm ở phần đường bên phải hướng Y - N; Đo đến điểm dấu vết số (1) là 4m56; đến điểm đầu dấu vết số (2) là 92cm; đo đến tâm lốc máy xe mô tô là 9m66; đo đến tâm bánh sau bên trái xe ô tô là 25m65; đến mép đường chuẩn là 1m10cm.
  • + Điểm mốc: Đo từ vị trí mốc đến dấu vết số (1) là 5m50cm; đến điểm đầu vết số (2) là 3m30; đến tâm lốc máy xe mô tô là 8m62; đo đến tâm trục bánh sau bên trái xe ô tô là 23m15; Đến vị trí điểm chạm (A) là 2m90cm.

Kết quả khám nghiệm tử thi, trưng cầu giám định và định giá tài sản:

Tại bản kết luận giám định pháp y số 96/KLGĐTT-PC09-CAT ngày 06/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Nạn nhân Quách Thị T4 chết do đa chấn thương.

Tại bản kết luận giám định số 6942/KL-KTHS ngày 13/10/2023của V - Bộ C2 kết luận tình trạng hệ thống phanh, hệ thống lái, đèn và còi của xe ô tô biển kiểm soát 35H-019.50 tại thời điểm trước và sau khi xảy ra tai nạn đảm bảo an toàn, kỹ thuật.

Tại bản kết luận giám định số388/KL-KTHS ngày 29/9/2023 của Phòng K- Công an tỉnh H kết luận: Trích xuất được dữ liệu tốc độ từng giây trong khoảng thời gian từ 20 giờ 44 phút 50 giây đến 21 giờ 09 phút 40 giây ngày 28/8/2023 từ thiết bị gửi giám định có phụ lục kèm theo.

Tại kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS ngày 01/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Y kết luận tổng giá trị những hư hỏng của xe mô tô biển kiểm soát 28F1-174.56 là 1.000.000 đồng (một triệu đồng) và tổng giá trị những hư hỏng của xe ô tô biển kiểm soát 35H-019.50 là 210.000đ (hai trăm mười nghìn đồng)

Tại bản cáo trạng số: 07/CT-VKS-YT ngày 13/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình đã truy tố bị cáo Hà Văn L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Bị cáo Trần Văn M về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 264 Bộ luật hình sự.

* Thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi xem xét đánh giá toàn diện nội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Hà Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Bị cáo Trần Văn M phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”
  • + Hình phạt chính:

    Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b,s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 65 Bộ luật hình sự. Tuyên phạt bị cáo 36 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án. Trả tự do cho bị cáo nếu bị cáo không bị tạm giam về hành vi phạm tội khác.

    Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 264; điểm i,s khoản 1, điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự. Tuyên phạt bị cáo Trần Văn M từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ. Đề nghị áp dụng biện pháp khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong thời gian chấp hành án từ 5% đến 10% thu nhập trên tháng.

  • + Hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  • + Về trách nhiệm dân sự các bên đã thỏa thuận bồi thường số tiền 110.000.000₫ các bên đã thực hiện cam kết nay không yêu cầu bồi thường gì thêm vì vậy không xem xét xử lý.
  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị trả lại 01 giấy phép lái xe hạng B2 số [...] mang tên Hà Văn L do Sở giao thông vận tải tỉnh S cấp có giá trị đến ngày 03/11/2026.

Bị cáo nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình truy tố, không có ý kiến tranh luận.

Đại diện hợp pháp của người bị hại nhất trí với bản luận tội, không có ý kiến tranh luận.

Người bào chữa cho bị cáo Hà Văn L đồng ý với tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức án đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điều 54 Bộ luật hình sự xét xử bị cáo từ 24 tháng đến 30 tháng tù cho hưởng án treo.

Bị cáo Hà Văn L nhất trí với ý kiến bào chữa của người bào chữa cho bị cáo đã trình bày trước Toà.

Đại diện Viện kiểm sát tranh luận với ý kiến của người bào chữa: Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, người bị hại cũng có lỗi tuy nhiên để răn đe và giáo dục phòng ngừa đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận ý kiến của người bào chữa.

Bị cáo Hà Văn L và Trần Văn M nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng:
    1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, tỉnh Hòa Bình, của Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
    2. Về sự vắng mặt của người làm chứng: Xét thấy người làm chứng vắng mặt nhưng quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt.
  2. Về nội dung vụ án:

    Xét hành vi của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

    Lời khai nhận hành vi của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản, sơ đồ, bản ảnh hiện trường; kết luận giám định; lời khai của các bị cáo, người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở khẳng định:

    Hà Văn L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có giấy phép lái xe hạng B2 được phép điều khiển ô tô chở người đến 9 chỗ ngồi, ô tô tải có trọng tải dưới 3500kg và xe hạng B1 có giá trị đến ngày 03/11/2026. Khoảng 15h ngày 28/8/2023 L điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 35H-019.50 có thông số kỹ thuật theo Giấy chứng nhận kiểm định số: EA 0985608 của Trung tâm Đ1 cụ thể: Khối lượng bản thân 3865kg, khối lượng chở hàng 4990/4990kg chở theo hàng là nông sản bao gồm nhãn, na, cà có khối lượng 2300kg đi từ Sơn La về Thái Bình .

    Đến khoảng 20h48 phút cùng ngày khi L điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 35H-019.50 đến đoạn đường thuộc địa phận xóm B, xã N tốc độ xe khoảng trên 60km/h thì quan sát phía trước ngược chiều cách khoảng 20m có 01 xe mô tô biển kiểm soát 28F1-17456 do bà Quách Thị C điều khiển chở phía sau là bà Quách Thị T4 đang chuyển động từ đường nhánh phía bên trái sang đường nhánh phía bên phải đi chếch theo hướng Y - N, thấy vậy L nháy đèn, bấm còi cảnh báo, đạp phanh và điều khiển xe đi sang bên phải để tránh va chạm. Tuy nhiên do khoảng cách gần, không làm chủ được tốc độ và tay lái nên phần thùng xe bên trái xe ô tô do L điều khiển đã va chạm với người và xe mô tô biển kiểm soát 28F1-174.56 dẫn đến tai nạn, hậu quả bà Quách Thị C bị thương tích nhẹ, bà Quách Thị T4 bị thương tích nặng và chết, xe ô tô và xe mô tô hư hỏng, tổng thiệt hại là 1.210.000đ (Một triệu, hai trăm mười nghìn đồng).

    Hành vi nêu trên của bị cáo Hà Văn L đã vi phạm vào khoản 9, Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định về điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định và Khoản 3 Điều 4, khoản 1 và khoản 3, điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng khi tham gia giao thông đường bộ. Đây là lỗi chính, lỗi trực tiếp gây ra vụ tai nạn dẫn đến bà T4 tử vong nên đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” căn cứ điểm a khoản 2, Điều 260 Bộ luật hình sự.

    Đối với bị cáo Trần Văn M vào khoảng 06 giờ 30 ngày 28/08/2023 biết rõ Hà Văn L chỉ có giấy phép lái xe hạng B2, không đủ điều kiện để điều khiển xe ô tô tải yêu cầu giấy phép lái xe hang C nhưng vẫn giao xe ô tô biển kiểm soát 35H-01950 cho Hà Văn L điều khiển tham gia giao thông, dẫn đến Hà Văn L khi điều khiển xe đã đâm va vào xe mô tô biển kiểm soát 28F1-174.56 do bà Quách Thị C điều khiển chở phía sau là bà Quách Thị T4, hậu quả làm bà Quách Thị T4 tử vong. Hành vi của bị cáo Trần Văn M đã vi phạm vào khoản 10, Điều 8 của Luật giao thông đường bộ gây hậu quả làm chết một người nên đã phạm vào tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 của Bộ luật Hình sự.

  3. Xét tính chất vụ án, mức độ hành vi:

    Hành vi của bị cáo Hà Văn L là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây thiệt hại đến tính mạng của bà Quách Thị T4. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được khi điều khiển xe ô tô tham gia giao thông phải tuyệt đối tuân thủ các quy tắc giao thông đường bộ để đảm bảo an toàn, không gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông. Tuy nhiên khi đi vào đoạn đường giao nhau cùng mức, có biển cảnh báo đường giao nhau đồng thời là khu đông dân cư bị cáo không điều khiển xe đảm bảo tốc độ an toàn dẫn đến khi xe mô tô do bà C điều khiển sang đường đã không kịp xử lý gây tai nạn với hậu quả 01 người tử vong. Bị cáo phạm tội với lỗi vô ý.

    Đối với hành vi của bị cáo Trần Văn M là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng gián tiếp gây thiệt hại đến tính mạng của Quách Thị T4, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự chung trên địa bàn huyện Y.

  4. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân:

    Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Hà Văn L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả thiệt hại về người cho đại diện người bị hại là anh Quách Xuân T5 số tiền 110.000.000 đồng (Một trăm mười triệu đồng). Người đại diện người bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu đề nghị bồi thường gì thêm và có đơn xin miễn, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Hà Văn L, trong vụ án người bị hại Quách Thị C cũng có lỗi khi tham gia giao thông không có giấy phép lái xe, sang đường không chú ý quan sát. Bản thân bị cáo là người dân tộc sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo, hiện tại là lao động chính trong gia đình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b,s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng để xem xét khi lượng hình.

    Đối với bị cáo Trần Văn M phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại phiên toà hôm nay đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i,s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng để xem xét khi lượng hình.

  5. Về hình phạt chính, hình phạt bổ sung:

    Về hình phạt chính:

    * Xét bị cáo Hà Văn L được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, trong vụ án người bị hại Quách Thị C cũng có lỗi khi điều khiển xe không có giấy phép lái xe theo quy định, khi sang đường không đảm bảo an toàn dẫn đến va chạm sảy ra vì vậy thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà để bị cáo cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo thành công dân tốt và thể hiện sự nhân đạo của pháp luật là phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự. Đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội vừa cải tạo, vừa lao động vừa đi lại, quan tâm, thăm hỏi phía gia đình bị hại.

    * Đối với Trần Văn M xét bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, vì vậy cần căn cứ điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt mức hình phạt cải tạo không giam giữ đồng thời khấu trừ thu nhập của bị cáo trong thời gian chấp hành án cũng đủ điều kiện cải tạo thành người có ích.

    Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự, thì bị cáo L còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Thấy rằng bản thân bị cáo và gia đình hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung.

    Đối với bị cáo Trần Văn M do đã khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với bị cáo vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 4, điều 264 Bộ luật hình sự.

  6. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Chấp nhận việc cơ quan điều tra đã trả lại các vật chứng và các giấy tờ liên quan trong vụ án cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị T3 và ông Hoàng Văn Đ.
    • - Đối với 01 giấy phép lái xe hạng B2 số [...] mang tên Hà Văn L do Sở giao thông vận tải tỉnh S cấp có giá trị đến ngày 03/11/2026 là giấy tờ tùy thân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
  7. Về trách nhiệm dân sự:

    Đại diện người bị hại anh Quách Xuân T5 và bị cáo Hà Văn L đã thỏa thuận bồi thường tổng số tiền 110.000.000 đồng (Một trăm mười triệu đồng) và không yêu cầu bồi thường gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

  8. Về các vấn đề khác:

    Đối với bà Quách Thị C sau khi tai nạn bị thương tích, Cơ quan điều tra đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định nhưng bà C từ chối giám định, tại phiên toà hôm nay bà C giữ nguyên ý kiến từ chối giám định vì vậy không xem xét giải quyết.

    Đối với hành vi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông không có giấy phép lái xe theo quy định ngày 28/8/2023 của Quách Thị C đã vi phạm quy định tại điểm a, khoản 5, Điều 21 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt; (được sửa đổi tại khoản 11, Điều 2 Nghị định 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định xử phạt vị phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải, giao thông đường bộ, đường sắt, hàng không dân dụng). Công an huyện Y ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

    Đối với hành vi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông không có giấy phép lái xe đồng thời khi chuyển làn tại nơi giao nhau với đường ưu tiên không quan sát của bà Quách Thị C tại Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung số: 03/2024/HSST-QĐ ngày 29/8/2024 Hội đồng xét xử đã yêu cầu làm rõ có dấu hiệu phạm tội không, quá trình điều tra bổ sung Cơ quan điều tra đã làm rõ bà C không có lỗi vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

    Đối với ông Hoàng Văn Đ, sinh năm 1967 trú tại xóm B, xã N, huyện Y, tỉnh Hòa Bình là chủ sở hữu xe mô tô biển kiểm soát 28F1-174.56. Ngày 28/8/2023 ông Đ không giao chiếc xe mô tô trên, bà C tự ý lấy sử dụng tham gia giao thông và xảy ra tai nạn nên không xem xét là phù hợp.

    Đối với Nguyễn Văn T6, là người làm chứng trong vụ án trong quá trình điều tra trước đây đã đưa ra lời khai không đúng với nội dung, diễn biến của vụ án. Sau khi trả hồ sơ điều tra bổ sung ngày 25/11/2024 T6 đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra cung cấp, thay đổi lời khai giúp Cơ quan điều tra đấu tranh làm rõ hành vi phạm tội của Trần Văn M. Tuy nhiên T6 không biết việc giao xe giữa Trần Văn M và Hà Văn L đồng thời không biết việc L điều khiển xe ô tô tham gia giao thông ngày 28/8/2023 có đủ điều kiện theo quy định hay không. Công an huyện Y đã tiến hành xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn T6 vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

    Đối với Nguyễn Thị T3 là đồng sở hữu xe ô tô BKS: 35H-019.50 đã giao cho Trần Văn M trực tiếp quản lý sử dụng. Ngày 28/8/2023 T3 không biết việc giao xe giữa M và L nên không có lỗi, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y không xử lý vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

  9. Về án phí và quyền kháng cáo:

    Các bị cáo bị kết án vì vậy phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 135 và 136 BLTTHS. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về trách nhiệm hình sự:

    Tuyên bố bị cáo Hà Văn L phạm tội ‘Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Bị cáo Trần Văn M phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.

    • + Căn cứ điểm a khoản 2, Điều 260; điểm b,s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
    • - Xử phạt bị cáo: H (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Hà Văn L cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh Sơn La giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về hành vi tội phạm khác.
    • Trường hợp bị cáo Hà Văn L thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
    • Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
    • + Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 264; điểm i,s khoản 1, Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Văn M;
    • - Xử phạt bị cáo Trần Văn M 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ.
    • Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh nhận được Quyết định thi hành án và bản án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La quản lý, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Bị cáo phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Điều 99 Luật thi hành án hình sự.
    • Khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Trần Văn M mỗi tháng là 10% thu nhập trong thời gian chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ để nộp ngân sách Nhà nước.
    • Trường hợp bị cáo Trần Văn M vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.
  2. Về biện pháp tư pháp:

    Căn cứ Điều 46, Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Tòa án trả lại cho bị cáo Hà Văn L 01 giấy phép lái xe hạng B2 số [...] mang tên Hà Văn L do Sở giao thông vận tải tỉnh S cấp cho Hà Văn L có giá trị đến ngày 03/11/2026

  3. Án phí:

    Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Buộc bị cáo Hà Văn L và Trần Văn M mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo:

    Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Hòa Bình;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND huyện Yên Thủy;
  • - Công an tỉnh Sơn La
  • - Sở tư pháp tỉnh Sơn La
  • - CA huyện Yên Thủy;
  • - THAHS - DS huyện Yên Thủy;
  • - Bị cáo; Người bị hại
  • - Người đại diện hợp pháp
  • của người bị hại;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - UBND xã/TT nơi bị cáo cư trú
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Trung Nghĩa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 07/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Văn L phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger