TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 07/2025/HS-ST Ngày 26-02-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO - TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tôn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Vũ Thị Đào.
- Ông Danh Út Nhỏ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Vũ Đức, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên tòa: Ông Võ Hoàng Hạt, Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Trần Thị L, sinh ngày 01/01/1980; nơi sinh: G - Kiên Giang. Nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang; CCCD: [...], nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N (đã chết) và bà Trương Thị M, chồng là Dương Văn K và 01 con sinh năm 2019. Tiền án: Không, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 05/11/2018 bị Công an huyện G xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc với mức phạt là 1.500.000 đồng theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 95/QĐ-XPVPHC, đã nộp phạt xong. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 297 ngày 15/10/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, có mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Thị R, sinh ngày 01/01/1974; nơi sinh: G - Kiên Giang. Nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang; CCCD: [...], nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K1 (đã chết) và bà Đặng Thị H (đã chết), chồng là Nguyễn Văn T (đã ly hôn) và 02 con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 1997. Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 296 ngày 15/10/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, có mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1956. Nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt
- Bà Võ Thị Bé B, sinh năm 1975. Nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt
- Anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1990. Nơi cư trú: ấp P, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Vắng mặt không lý do
- Chị Trần Thị M1, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt
- Bà Thạch Thị Q (tự: Quăng), sinh năm 1967. Nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt
- Chị Thị Ngọc H2, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt
- Bà Trần Thị T1, sinh năm 1952. Nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt
- Chị Nguyễn Kim T2, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt
Người chứng kiến:
Ông Trần Văn T3, sinh năm 1972. Nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 16 giờ ngày 12/10/2024, Công an huyện G tiến hành bắt quả tang Trần Thị L đang thực hiện hành vi ghi bán số đề tại nhà thuộc khu phố P, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Kiểm tra trên người tạm giữ số tiền 89.000 đồng. Tại nơi tập hợp phơi đề đã tạm giữ:
- Một điện thoại di động Samsung Galaxy J6+ màu xanh, số I: 352812102654615;
- Một điện thoại bàn phím hiệu Nokia màu xanh, số Imei: 359097702458913;
- Một tờ giấy lịch và một tờ giấy trắng trên tờ giấy có các con số nghi là số đề có chữ ký xác nhận của Trần Thị L;
- Một cây viết mực xanh nhãn hiệu TL031 và một cây viết mực đen nhãn hiệu TL031.
Quá trình điều tra xác định: Bị cáo Trần Thị L khai nhận tham gia ghi bán số đề được 7 ngày thì bị bắt, cách thức là bán qua điện thoại và bán trực tiếp cho người mua, bị can chỉ tham gia bán đài M. Hình thức ghi bán và trúng thưởng cụ thể:
- Số đầu, số đuôi: tỷ lệ 1 trúng 80; nghĩa là mua 1.000 đồng trúng thì được 80.000 đồng;
- Lô 2 con: mua 1.000 đồng người mua trả 15.000 đồng trúng thì được 80.000 đồng/lô số trúng;
- Lô số đá thẳng: mua 1.000 đồng trả 30.000 đồng, trúng thì được 600.000 đồng/cặp số trúng;
- Lô số đá chéo (đá 2 đài) mua 1.000 đồng người mua trả 60.000 đồng trúng thì được 600.000 đồng cho 1 cặp số trúng;
Hàng ngày khi có người mua số lô, số đề thì bị cáo sử dụng mạng xã hội (Zalo) của bị cáo tên trong zalo “N2”, từ điện thoại samsung Galaxy J6. Sau đó chuyển tất cả vào nhóm Z tên “Chị L” chỉ có 2 thành viên là bị cáo và người tên zalo “Mọc”, người tên zalo “Mọc” là người nhận phơi của L.
Trong ngày 12/10/2024 bị cáo L ghi bán số đài Long An, Hậu Giang, Bình Phước và Thành phố Hồ Chí Minh sau khi được in ra từ tin nhắn zalo trong điện thoại của L và tiến hành phân loại có chữ ký bị cáo xác nhận từng phơi sau khi đối chiếu kết quả cụ thể:
- Phơi ký hiệu số 1: Tổng số tiền bán là 2.210.000 đồng;
- Phơi ký hiệu số 2: Tổng số tiền bán là 2.410.000 đồng;
- Phơi ký hiệu số 3: Tổng số tiền bán là 2.945.000 đồng;
- Phơi ký hiệu số 4: Tổng số tiền bán là 750.000 đồng;
- Phơi ký hiệu số 5: Tổng số tiền bán là 1.256.000 đồng;
- Phơi ký hiệu số 6: Tổng số tiền bán là 3.210.000 đồng;
- Phơi ký hiệu số 7: Tổng số tiền bán là 270.000 đồng;
P ký hiệu từ số 01 đến 07 là 07 phơi tổng, đã tổng hợp lại từ các người chơi và đưa vào Zalo nhóm tên “chị L” để giao cho người tên “Mọc” với tổng số tiền là: (2.210.000 + 2.410.000 + 2.945.000 + 750.000 + 1.256.000 + 3.210.000 + 270.000 ) = 13.051.000 đồng.
Còn lại những phơi sau là phơi của những người tham gia mua số, bị cáo có giữ lại một phần, không đưa vào phơi tổng, cụ thể như sau:
- Phơi ký hiệu số 8: Là phơi của bị cáo Nguyễn Thị R mua tổng số tiền phơi này là 1.860.000 đồng trong đó bị cáo L đã đưa vào nhóm “chị L” là 880.000 đồng, bị cáo giữ lại không giao là 985.000 đồng;
- Phơi ký hiệu số 9: Là phơi của bị cáo Nguyễn Thị R mua tổng số tiền phơi này là 2.610.000 đồng, trong đó bị cáo đã đưa vào nhóm “chị L” là 1.120.000 đồng, bị cáo L giữ lại không giao là 1.490.000 đồng;
- Phơi ký hiệu số 10: Là phơi của bị cáo Nguyễn Thị R mua với tổng số tiền là 3.320.000 đồng, trong đó bị cáo L đã đưa vào phơi tổng là 2.460.000 đồng, bị cáo L giữ lại không vào phơi tổng là 860.000 đồng;
- Phơi ký hiệu số 11: Là phơi của bị cáo Nguyễn Thị R mua với tổng số tiền là 815.000 đồng, trong đó bị cáo L đã đưa vào nhóm “chị L” là 680.000 đồng, bị cáo L giữ lại không vào phơi tổng là 315.000 đồng.
Như vậy số tiền bị cáo Nguyễn Thi R1 tham gia mua số đề là (1.860.000 + 3.320.000 + 2.610.000 + 3.210.000) = 8.605.000 đồng; trong đó, bị cáo L giữ lại một phần, không đưa vào phơi tổng với số tiền là (985.000 + 1.490.000 + 860.000 + 135.000) = 3.470.000 đồng.
- Phơi ký hiệu số 12 và 13: Là người tên Z “L” gửi qua mua tổng số tiền trong 2 phơi này là 1.520.000 đồng, bị cáo L giữ lại hết không đưa vào phơi tổng.
- Phơi ký hiệu số 14: Là người tên Z “Lâm Hân” gửi qua mua tổng số tiền 480.000 đồng, bị cáo L chưa đưa vào phơi tổng.
- Phơi ký hiệu số 15: Là người tên Z “L” gửi qua mua với tổng số tiền là 1.140.000 đồng đã cho vào nhóm phơi tổng chị L.
- Phơi ký hiệu số 16 tên Z “Lâm Hân” gửi qua tổng số tiền là 270.000 đồng, nhưng bị cáo chưa nhận thì bị Công an bắt quả tang.
- Phơi ký hiệu số 17: Là của bà Thạch Thị Q chụp hình gửi qua mua với tổng số tiền là 65.000 đồng, bị cáo L giữ lại không đưa vào nhóm phơi tổng;
- Phơi ký hiệu số 18: Là của Võ Thị B1 Ba gửi qua mua với số tiền là 45.000 đồng, bị cáo L giữ lại không đưa vào nhóm phơi tổng.
- Phơi ký hiệu số 19: Là phơi của Trần Thị M1 gửi qua mua với tổng số tiền là 150.000 đồng, bị cáo L giữ lại không cho vào nhóm phơi tổng.
- Phơi ký hiệu số 20: Là của Thị Ngọc H3 gửi qua mua với tổng số tiền ngày 11/10/2024 là 90.000 đồng và ngày 12/10/2024 là 100.000 đồng, bị cáo L giữ lại không cho vào nhóm phơi tổng.
- Phơi ký hiệu số 21: Là phơi của người tên Zalo Ngọc B2 gửi qua mua trong đó mua ngày 11/10/2024 với số tiền là 305.000 đồng. Ngày 12/10/2024 mua với số tiền là 150.000 đồng, bị cáo L giữ lại 75.000 đồng và đưa vào phơi tổng số tiền là 75.000 đồng;
- Phơi ký hiệu số 22: là phơi của bà Trần Thị T1 với số tiền là 20.000 đồng, bị cáo L giữ lại không đưa vào phơi tổng;
- Phơi ký hiệu số 23: Là của Nguyễn Kim T2 gửi qua mua với tổng số tiền là 350.000 đồng, trong đó đã vào phơi tổng là 200.000 đồng, bị cáo L giữ lại số tiền 150.000 đồng;
- Phơi ký hiệu số 24: Bị cáo L ghi ra chưa đưa vào phơi tổng số tiền là 185.000 đồng;
- Phơi ký hiệu số 25: Không xác định ngày bán chỉ xác định số tiền bán trong ngày này là 290.000 đồng.
Ngoài ra, bà Nguyễn Thị H1 có gọi điện thoại mua số đề với tổng số tiền là 325.000 đồng và Nguyễn Văn N1 gọi điện thoại mua số đề với tổng số tiền là 1.500.000 đồng, đã đưa vào phơi tổng.
Tổng số tiền mà bị cáo L giữ lại của những người chơi, không đưa vào phơi tổng là (3.470.000 + 1.520.000 + 480.000 + 65.000 + 45.000 + 150.000 + 100.000 + 75.000 + 20.000 + 150.000 + 185.000) = 6.260.000 đồng.
Như vậy, Tổng số tiền chứng minh định lượng bị cáo L tham gia đánh bạc ngày 12/10/2024 là (số tiền của 07 phơi tổng 13.051.000 + số tiền bị cáo giữ lại 6.260.000) = 19.311.000 đồng (Mười chín triệu ba trăm mười một ngàn đồng).
Bị cáo Nguyễn Thị R tham gia mua số với số tiền là 8.605.000 đồng.
Vật chứng trong vụ án:
- Một điện thoại di động Samsung Galaxy J6, màu xanh, số Imei: 352812102654615 (thu giữ của bị cáo L);
- Một điện thoại di động Samsung màu đỏ, tình trạng pin bị phù, ốp lưng sau bị hở, số Imei: 357086109415339 (thu giữ của bị cáo R);
- Một cây viết mực xanh nhãn hiệu TL031 và một cây viết mực đen nhãn hiệu TL031;
Các vật chứng trên hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao.
- Một tờ giấy lịch và một tờ giấy trắng trên tờ giấy có các con số nghi là số đề có chữ ký xác nhận của Trần Thị L đã đưa vào hồ sơ vụ án;
- Một điện thoại bàn phím hiệu Nokia màu xanh, số Imei: 359097702458913; đã trả cho bị cáo Trần Thị L theo biên bản ngày 17/10/2024;
- Tiền VNĐ 5.974.000 đồng (Trong đó: Bị cáo L nộp 3.700.000 đồng, bị cáo R nộp 1.500.000 đồng, chị H2 nộp 100.000 đồng, bà Q nộp 65.000 đồng, bà T1 nộp 20.000 đồng, chị M1 nộp 150.000 đồng, bà B1 Ba nộp 45.000 đồng, bà H1 nộp 305.000 đồng và 89.000 đồng thu giữ trên người bị cáo L), theo giấy nộp tiền vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao ngày 28/11/2024.
Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKSND-GQ, ngày 07/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao đã truy tố các bị cáo Trần Thị L, Nguyễn Thị R về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Trần Thị L, Nguyễn Thị R phạm tội “Đánh bạc”.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thị L hình phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị R hình phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước một điện thoại di động Samsung Galaxy J6, màu xanh, số Imei: 352812102654615; một điện thoại di động Samsung màu đỏ, tình trạng pin bị phù, ốp lưng sau bị hở, số Imei: 357086109415339 và số tiền liên quan đến việc đánh bạc là 5.974.000 đồng theo giấy nộp tiền vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao ngày 28/11/2024; tuyên tịch thu tiêu hủy một cây viết mực xanh nhãn hiệu TL031 và một cây viết mực đen nhãn hiệu TL031.
Ghi nhận ý kiến bị cáo L đồng ý nộp thay số tiền đánh bạc cho người có tên Z “Lâm Hân” là 3.140.000đ và người có tên Z “Ngọc B2” là 150.000 đồng và số tiền thu lợi bất chính trong 07 ngày bán số lô, số đề trước đó, mỗi ngày là 200.000 đồng, cộng là 1.400.000 đồng; được khấu trừ số tiền đã nộp 3.700.000 đồng theo biên bản ngày 25/11/2024 và số tiền 89.000 đồng thu giữ trên người bị cáo L khi bắt quả tang. Như vậy bị cáo L còn phải nộp tiếp số tiền 990.000₫ (Chín trăm chín mươi nghìn đồng).
Buộc bị cáo R phải nộp tiếp số tiền tham gia đánh bạc là 7.105.000 đồng (Bảy triệu một trăm lẽ năm nghìn đồng).
Các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa bị cáo L đồng ý nộp thay số tiền đánh bạc cho người có tên Z “Lâm Hân” là 3.140.000đ và người có tên Z “Ngọc B2” là 150.000 đồng và số tiền thu lợi bất chính trong 07 ngày (bán số lô, số đề trước đó) mỗi ngày thu lời là 200.000 đồng, cộng là 1.400.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo L phải nộp để sung quỹ Nhà nước là 3.140.000đ + 150.000đ + 1.400.000đ = 4.690.000đ, được khấu trừ số tiền bị cáo đã nộp 3.700.000 đồng theo biên bản ngày 25/11/2024 và số tiền 89.000 đồng thu giữ trên người bị cáo L khi bắt quả tang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện G, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp quy định pháp luật.
[2] Sự có mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến đều có đơn xin vắng mặt, riêng anh N1 vắng mặt không lý do. Xét thấy việc vắng mặt những người này nhưng trước đó đã có lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt những người này không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo Trần Thị L, Nguyễn Thị R tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định vào khoảng 16 giờ ngày 12/10/2024, lực lược Công an huyện G tiến hành bắt quả tang bị cáo Trần Thị L đang thực hiện hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền bằng hình thức bán số đề tại nhà thuộc khu phố P, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Qua đối chiếu phơi đề, lời khai của các đối tượng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã xác định được trong ngày 12/10/2024 bị cáo Trần Thị L tham gia đánh bạc với số tiền là 19.311.000 đồng, bị cáo Nguyễn Thị R tham gia đánh bạc với số tiền là 8.605.000 đồng. Như vậy, hành vi của hai bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao truy tố các bị cáo về tội danh và khung hình phạt như trên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi, các bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, được pháp luật Nhà nước nghiêm cấm nhưng vì tư lợi cá nhân, bất chấp pháp luật các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội của mình. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, xâm phạm đến trật tự nếp sống văn minh của xã hội, hành vi đánh bạc của các bị cáo còn là một tệ nạn xã hội cần xóa bỏ vì nó để lại hậu quả xấu cho xã hội và là nguyên nhân dẫn đến các hành vi phạm tội khác; với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra nên cần xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm đủ sức răn đe và nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo sống chấp hành theo quy định của pháp luật, đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:
- Số tiền VNĐ 5.885.000 đồng (Năm triệu tám trăm tám mươi lăm nghìn đồng). Trong đó: Bị cáo L nộp 3.700.000 đồng, bị cáo R nộp 1.500.000 đồng, chị H2 nộp 100.000 đồng, bà Q nộp 65.000 đồng, bà T1 nộp 20.000 đồng, chị M1 nộp 150.000 đồng, bà B1 Ba nộp 45.000 đồng, bà H1 nộp 305.000 đồng), là tiền các đối tượng dùng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước; Kê biên đảm bảo thi hành án số tiền tạm giữ của bị cáo L là 89.000 đồng.
- Một điện thoại di động Samsung Galaxy J6, màu xanh, số Imei: 352812102654615 và một điện thoại di động Samsung màu đỏ, tình trạng pin bị phù, ốp lưng sau bị hở, số Imei: 357086109415339 (đã qua sử dụng), là phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cân tịch sung vào quỹ Nhà nước.
- Một cây viết mực xanh nhãn hiệu TL031 và một cây viết mực đen nhãn hiệu TL031, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Buộc bị cáo L phải nộp tiếp số tiền thu lợi bất chính là 990.000 đồng (Chín trăm chín mươi nghìn đồng).
- Buộc bị cáo R phải nộp tiếp số tiền tham gia đánh bạc còn lại 7.105.000 đồng (Bảy triệu một trăm lẽ năm nghìn đồng).
[7] Đối với các đối tượng Thị Ngọc H2, Nguyễn Thị H1, Thạch Thị Q, Nguyễn Kim T2, Võ Thị Bé B, Nguyễn Văn N1, Trần Thị T1 và Trần Thị M1 trong ngày 12/10/2024 có tham gia mua số đề do bị cáo L ghi bán, nhưng chưa đủ định lượng để xử lý hình sự về tội đánh bạc. Kết quả trích lục tiền án, tiền sự các đối tượng này chưa có tiền án, tiền sự nên đã tách hành vi xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Đối với người tên Zalo Lâm H4 và Bình N2, cơ quan điều tra chưa xác định được đối tượng cụ thể nên chưa triệu tập làm việc được. Còn trường hợp Nguyễn Thị Mỹ H5 quá trình điều tra bị cáo L khai nhận có nộp phơi cho H5 (Zalo tên M2), Cơ quan điều tra đã áp dụng nhiều biện pháp nghiệp vụ nhưng chưa rõ hiện tại Mỹ H5 đang ở đâu và làm gì nên đề nghị tách riêng hành vi ra, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
[8] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
+ Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố các bị cáo Trần Thị L, Nguyễn Thị R phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Trần Thị L hình phạt tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị R hình phạt tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J6, màu xanh, số Imei: 352812102654615 và 01 điện thoại di động Samsung màu đỏ, tình trạng pin bị phù, ốp lưng sau bị hở, số Imei: 357086109415339 (đã qua sử dụng);
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền VNĐ 5.885.000 đồng (Năm triệu tám trăm tám mươi lăm nghìn đồng). Trong đó: Bị cáo L nộp 3.700.000 đồng, bị cáo R nộp 1.500.000 đồng, chị H2 nộp 100.000 đồng, bà Q nộp 65.000 đồng, bà T1 nộp 20.000 đồng, chị M1 nộp 150.000 đồng, bà B1 Ba nộp 45.000 đồng, bà H1 nộp 305.000 đồng), theo giấy nộp tiền vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao ngày 28/11/2024;
- Kê biên đảm bảo thi hành án tạm giữ của bị cáo L là 89.000đ, số tiền này đã nộp chung theo giấy nộp tiền vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao ngày 28/11/2024.
- Ghi nhận việc Cơ quan điều tra trao trả lại cho bị cáo L một điện thoại bàn phím hiệu Nokia màu xanh, số I: 359097702458913.
- Tịch thu tiêu hủy một cây viết mực xanh nhãn hiệu TL031 và một cây viết mực đen nhãn hiệu TL031.
- Buộc bị cáo L phải nộp tiếp số tiền thu lợi bất chính là 990.000 đồng (Chín trăm chín mươi nghìn đồng).
- Buộc bị cáo R phải nộp tiếp số tiền tham gia đánh bạc là 7.105.000 đồng (Bảy triệu một trăm lẽ năm nghìn đồng).
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Trần Thị L, Nguyễn Thị R, mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tôn |
Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO - TỈNH KIÊN GIANG về hình sự - đánh bạc
- Số bản án: 07/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO - TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị L, Nguyễn Thị R phạm tội Đánh bạc
