Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ GIÁ RAI

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HSST

Ngày 25 tháng 02 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI, TỈNH BẠC LIÊU

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quốc Khởi

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Nguyễn Thành Nhạn
  • 2/ Bà Cao Thị Mỹ Phượng

Thư ký phiên tòa: ông Lê Khắc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai tham gia phiên tòa: ông Trần Chí Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 25/02/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu, xét xử kính, tuyên án công khai vụ án hình sự thụ lý số: 99/2024/HSST ngày 30/12/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2024/HSST-QĐ ngày 31/12/2024 đối với bị cáo:

NGUYỄN THANH Q, sinh ngày: 01/01/1961; tên gọi khác: Không có tên gọi khác; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; Chỗ ở hiện nay: Ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm vuông; Trình độ văn hóa: 05/12; Con ông Nguyễn Văn N và bà Đinh Thị C (đã chết); Vợ: Châu Thị Ngọc M (đã chết); Con ruột: 04 người; Tiền án, tiền sự: không có.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/4/2024 cho đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Người bị hại:

Lê Ngọc T – sinh ngày: 12/9/2010

Địa chỉ: ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

Ông Lê Văn T1 – sinh năm: 1991

Địa chỉ: ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại:

Ông Trần Hiển T2 – Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Xuất phát từ mục đích nhu cầu sinh lý cá nhân, trong khoảng thời gian từ tháng 11/2023 đến tháng 12/2023, tại nhà của Nguyễn Thanh Q ở Ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, Nguyễn Thanh Q - sinh ngày 01 tháng 01 năm 1961 đã ba lần thực hiện hành vi giao cấu với Lê Ngọc T, sinh ngày 12/9/2010 là người dưới 16 tuổi.

*Tại bản kết luận giám định xâm hại tình dục số 15/KLTTCT-TTPY ngày 13/5/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận Lê Ngọc T, sinh ngày 12/9/2010, địa chỉ ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu như sau:

  1. Các kết quả chính:
    • Màng trinh dạng vành khăn, kích thước lỗ màng trinh khoảng: 1,5 x 1,2cm, mất liên tục ở vị trí khoảng 04 giờ, 09 giờ, bờ tù không rớm máu.
    • Một thai sống trong lòng tử cung khoảng 25,4 tuần.
  2. Kết luận:
    • Màng trinh rách cũ ở vị trí khoảng 04 giờ, 09 giờ.
    • Tại thời điểm giám định Lê Ngọc T có thai khoảng 25,4 tuần.

*Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể người sống số 69/KLTTCT-TTPY ngày 13/5/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận Lê Ngọc T, sinh ngày 12/9/2010, địa chỉ ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu như sau:

  1. Các kết quả chính: Toàn thân không ghi nhận thương tích: Theo thông tư 22 không quy định tỷ lệ.
  2. Kết luận: Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Ngọc T tại thời điểm giám định là 00%.

*Tại bản kết luận giám định số 4364/KL-KTHS ngày 29/8/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

  • Lê Ngọc T và cháu bé có mẫu gửi giám định (cháu bé là con mới đẻ chưa đặt tên của Lê Ngọc T) có quan hệ huyết thống mẹ - con.
  • Nguyễn Thanh Q và cháu bé trên không có quan hệ huyết thống cha – con.

Tại Cáo trạng số 05/CT- VKS-HS ngày 30/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai truy tố bị cáo Nguyễn Thanh Q về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai vẫn giữ nguyên bản Cáo trạng đã truy tố:

Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Q mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo đồng ý tiếp tục cho bị hại số tiền là 20.000.000đ.

Bị cáo Nguyễn Thanh Q đã ăn năn hối cải về hành vi của mình việc Viện kiểm sát truy tố và Tòa án xét xử bị cáo là không oan cho bị cáo, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do hiện tại bị cáo đã lớn tuổi, bị cáo biết lỗi về hành vi của mình. Trong quá trình điều tra bị cáo đã tự thú về các lần giao cấu của bị cáo đối với bị hại nên bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để có điều kiện sửa đổi bản thân.

Đại diện hợp pháp người bị hại trình bày: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo do bị cáo là người lớn tuổi, gia đình bị cáo đã khắc phục cho bị hại số tiền là 200.000.000đ. Tại phiên tòa bị cáo cũng đã ăn năn, hối cải về hành vi của bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Yêu cầu bị cáo bồi thường thêm cho bị hại số tiền là 20.000.000đ.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trình bày: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn và ăn năn hối cải về hành vi của bị cáo, nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có điều kiện sửa đổi bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1]. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an thị xã G, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thanh Q không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh Q đã thừa nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai đã truy tố, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận như sau: Trong khoảng thời gian từ tháng 11/2023 đến 12/2023 bị cáo đã thực hiện hành vi quan hệ tình dục với cháu Lê Ngọc T – sinh ngày 12/9/2010 ba lần tại nhà của bị cáo thuộc Ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, mỗi lần quan hệ tình dục bị cáo cho bị hại số tiền từ 150.000đ đến 200.000đ.

3] Tại bản kết luận giám định xâm hại tình dục số 15/KLTTCT-TTPY ngày 13/5/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận Lê Ngọc T, sinh ngày 12/9/2010, địa chỉ ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu như sau:

  • Màng trinh rách cũ ở vị trí khoảng 04 giờ, 09 giờ.
  • Tại thời điểm giám định Lê Ngọc T có thai khoảng 25,4 tuần.

*Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể người sống số 69/KLTTCT-TTPY ngày 13/5/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Ngọc T tại thời điểm giám định là 00%.

*Tại bản kết luận giám định số 4364/KL-KTHS ngày 29/8/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

  • Lê Ngọc T và cháu bé có mẫu gửi giám định (cháu bé là con mới đẻ chưa đặt tên của Lê Ngọc T) có quan hệ huyết thống mẹ - con.
  • Nguyễn Thanh Q và cháu bé trên không có quan hệ huyết thống cha – con.

4] Hình thức thực hiện hành vi của bị cáo: bị cáo là người đã thành niên và bị cáo đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết của bị hại để quan hệ tình dục với bị hại 03 lần tại nhà của bị cáo. Vì vậy, Cáo trạng số 05/CT- VKS-HS ngày 30/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai truy tố bị cáo Nguyễn Thanh Q về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và không oan cho bị cáo.

5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng trực tiếp sự phát triển tâm sinh lý, thể chất, đến nếp sống văn minh của xã hội nên cần xử lý nghiêm minh để góp phần phòng ngừa chung cho xã hội.

6] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện khắc phục hậu quả cho người bị hại số tiền là 200.000.000đ, người bị hại và đại diện bị hại có yêu cầu bãi nại cho bị cáo. Nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Về tình tình tiết tăng nặng, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, khắc phục hậu quả cho bị hại số tiền rất lớn. Nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

7] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, người bị hại có yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền là 20.000.000đ. Bị cáo đồng ý, do đây là sự tự nguyện của bị cáo nên được Hội đồng xét xử ghi nhận. Do ông Lê Văn T1 là đại diện cháu Lê Ngọc T nên được nhận tiền từ bị cáo khi bị cáo nộp tiền bồi thường, khắc phục hậu quả.

8] Xét ý kiến đề xuất xử lý vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai về điều luật là có căn cứ nên được chấp nhận. Về hình phạt Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

9] Đối với người đã thực hiện hành vi quan hệ tình dục với cháu Lê Ngọc T dẫn đến mang thai, trong quá trình điều tra bị hại xác định chỉ quan hệ tình dục mới một mình bị cáo. Tuy nhiên, lời khai của bị hại không phù hợp với kết luận giám định. Nên kiến nghị cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định.

10] Án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch: Do bị cáo là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên căn cứ điểm đ Điều 12 của Nghị quyết số 326/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí giá ngạch cho bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1/- Tuyên bố: bị cáo NGUYỄN THANH Q phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 145, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thanh Q - 01 (Một) năm tù.

Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.

2/- Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng Điều 584 và Điều 592 của Bộ luật dân sự năm 2015. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Thanh Q tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền là 20.000.000đ.

Buộc bị cáo Nguyễn Thanh Q có nghĩa vụ bồi thường cho cháu Lê Ngọc T số tiền thiệt hại về danh dự nhân phẩm, tổn thất tinh thần là 20.000.000đ. Anh Lê Văn T1 là đại diện cháu Lê Ngọc T được nhận số tiền 20.000.000đ từ bị cáo khi bị cáo nộp tiền bồi thường, khắc phục hậu quả.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn lại phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

3/- Về vật chứng của vụ án: Không có nên không đặt ra xem xét.

4/- Án phí: áp dụng điểm đ Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí giá ngạch cho bị cáo.

5/. Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo và những người tham gia tố tụng biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Quốc K

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HSST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI, TỈNH BẠC LIÊU về giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 07/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh Quang
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger