|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH TỈNH HẢI DƯƠNG Bản án số: 07/2025/HSST Ngày: 25/02/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH - TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Ái Thương và ông Nguyễn Văn Đoàn.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Vũ Quang Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Vui - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2025/HSST ngày 21 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HS ngày 12/02/2025, đối với các bị cáo:
- Bùi Văn G, sinh ngày 09/7/2000. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Thôn P, xã B (nay là xã H), huyện K, tỉnh Hải Dương. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Bùi Văn Đ và bà Đồng Thị H. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H. Có mặt.
- Nguyễn Văn T, sinh ngày 06/6/1985. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Thôn C, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: 3/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Đức G1 (đã chết) và bà Lương Thị L. Tiền án: 02 tiền án: Bản án số 06/2020/HSST ngày 16/01/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, xử phạt Nguyễn Văn T 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, buộc T phải chấp hành hình phạt chung là 30 tháng tù. Ngày 22/12/2021 T chấp hành xong hình phạt tù; Bản án số 53/2022/HSST ngày 12/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xử phạt Nguyễn Văn T 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự). Ngày 30/6/2023 T chấp hành xong hình phạt tù. Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H. Có mặt.
- Lê Văn Q, sinh ngày 12/3/1995. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Lê Văn D và bà Đặng Thị H1. Tiền án: Không. Tiền sự: Tại Quyết định số 15/2021/QĐ-TA ngày 23/7/2021 của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn Q, thời hạn 18 tháng. Ngày 06/11/2022 Q chấp hành xong. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H. Có mặt.
- Vũ Văn O, sinh ngày 24/02/1999. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Mèo. Nơi cư trú: Thôn V, xã Đ, huyện K, tỉnh Hải Dương. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Vũ Văn N (đã chết) và bà Phạm Thị T1. Có vợ là Nguyễn Thị H2. Bị cáo có 02 con sinh năm 2020 và 2021. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H. Có mặt.
- Nguyễn Văn B, sinh ngày 30/10/1991. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Thôn P, xã B (nay là xã H), huyện K, tỉnh Hải Dương. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Nguyễn Văn B1 và bà Đồng Thị L1. Có vợ là Nguyễn Thị T2. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2018. Tiền án: Không. Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 10/QĐ-XPHC ngày 22/9/2023 của Công an xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương phạt tiền đối với Nguyễn Văn B về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 02/10/2023, B chấp hành xong. Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 71/QĐ-XPHC ngày 14/6/2017 của Công an huyện K phạt tiền đối với Nguyễn Văn B về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 16/6/2017 B chấp hành xong. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ ngày 07/6/2024, Nguyễn Văn T gọi điện rủ bạn là Bùi Văn G mua ma túy loại “đá” về cùng sử dụng, G đồng ý và hẹn gặp T ở cổng làng thôn T, xã B (nay là xã H), huyện K, tỉnh Hải Dương. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển số 14K4-6394 (xe T mượn của bác là ông Nguyễn Văn G2, sinh năm 1939, trú tại thôn C, xã K, huyện K) đến gặp G. T và G thống nhất T cầm cố điện thoại di động của T lấy tiền mua ma túy, còn G góp 100.000 đồng. Cùng thời gian này, Lê Văn Q gọi điện nhờ bạn là Nguyễn Văn B mua hộ ma túy loại “đá” để sử dụng, B đồng ý và gọi điện nhờ G mua hộ, G hẹn gặp ở cổng làng thôn T. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, Q điều khiển xe mô tô biển số 34S1-083.37 (xe Quý mượn của mẹ đẻ là bà Đặng Thị H1, sinh năm 1971, trú tại thôn H, xã K, huyện K) đón B đến gặp G. Tại đây, G, T, B và Q thống nhất góp tiền mua ma túy loại “đá” để cùng sử dụng. T chở G đến cửa hàng Đ1 ở xã L (nay là xã H), huyện K, G vào cầm cố điện thoại di động Iphone 6S của T được 250.000 đồng, G đưa lại cho T số tiền này và 100.000 đồng của G. Khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày, T và G đến quán nước ở thôn T, xã B gặp B và Q. Tại đây, cả nhóm thống nhất mua 500.000 đồng ma túy, T lấy ra 250.000 đồng (trong đó có 100.000 đồng của G), Q góp thêm 250.000 đồng để trên bàn, T đưa toàn bộ số tiền này cho G. G gọi điện nhờ bạn là Vũ Văn O mua hộ ma túy, O đồng ý. Sau đó, Q điều khiển xe mô tô biển số 34S1-083.37 chở G đến đón O ở thôn V, xã Đ. G đưa cho O 500.000 đồng, O điều khiển xe mô tô nêu trên chở Q và G đến gần khu công nghiệp T thuộc huyện A, thành phố Hải Phòng thì dừng xe lại, Q và G xuống xe chờ, còn một mình O điều khiển xe đến thôn M, xã H, huyện A tìm mua ma túy. O gặp và mua của một người phụ nữ (không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ) 500.000 đồng được 01 túi nilon bên trong chứa ma túy loại “đá”. Sau đó, O quay lại đón Q và G, O đưa túi ma túy cho G cầm, rồi điều khiển xe chở Q và G về xã B, huyện K. G gọi điện cho B thì B bảo đến khu vực ngoài đê thuộc thôn P, xã B. Lúc này, T điều khiển xe mô tô biển số 14K4-6394 chở B về nhà T lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy, gồm: 01 nắp chai nhựa có đục lỗ, 01 ống hút, 01 coóng thuỷ tinh và 01 bật lửa gas. T đưa bộ dụng cụ cho B cầm, rồi chở B đến đê thôn P.
Khoảng 15 giờ cùng ngày, G, Q, O, T, B gặp nhau ở đê thôn P, xã B (nay là xã H), huyện K, cả nhóm đi đến gốc cây táo cạnh nhà hoang ở ngoài đê, cách triền đê khoảng 100m để sử dụng ma tuý. Giáp đưa túi ma túy cho B, B đổ một nửa vào trong coóng thuỷ tinh, châm lửa đốt và hút khói ma tuý vào cơ thể (gọi là hút sống, không qua nước lọc). G nhặt vỏ chai nhựa có nhãn “Number One” ở bãi đất trống đưa cho O bảo O lấy nước, O ra sông múc nước vào chai rồi đưa cho G. B đưa coóng thuỷ tinh có chứa ma túy “đá” cho G lắp thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy, G bật lửa hơ nóng dưới coóng, hút khói ma túy vào cơ thể, rồi đưa cho Q, T, B, O lần lượt sử dụng ma túy. Khi hút hết ma tuý trong coóng, G cầm túi ma túy định đổ vào coóng nhưng tay G bị run nên Q lấy túi ma túy và cho hết số ma túy còn lại vào coóng, rồi G, Q, T, B và O tiếp tục sử dụng đến khi hết số ma túy nêu trên. Khoảng 18 giờ cùng ngày, cả nhóm sử dụng xong, T đốt vỏ túi nilon đựng ma túy, G tháo vỏ chai nhựa để lại dưới đất, rồi cầm nắp chai gắn ống hút, coóng thuỷ tinh và bật lửa gas về nhà G. Sau đó, T đến nhà G lấy lại bộ dụng cụ trên mang về nhà T đốt nắp chai gắn ống hút và chiếc bật lửa gas, còn coóng thuỷ tinh thì T giấu ở vườn nhà T.
Ngày 08/6/2024, sau khi nhận được đơn nặc danh tố giác hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nêu trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã triệu tập, làm việc với G, T, Q, O và B; cho các đối tượng xác định vị trí hiện trường nơi sử dụng trái phép chất ma túy, thu giữ 01 vỏ chai nhựa không có nắp, nhãn chai ghi chữ “Number One” và quản lý 01 coóng thuỷ tinh bên trong coóng còn bám dính chất màu đen (do T giao nộp), các đối tượng khai nhận là dụng cụ sử dụng ma túy loại “đá”. Ngoài ra, còn quản lý 01 điện thoại di động Nokia 225, gắn sim số thuê bao 0961.528.616 của Nguyễn Văn T; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A13, gắn sim số thuê bao 0326.300.430 của Lê Văn Q; 01 điện thoại di động Goly Base 35, gắn sim số thuê bao 0975.803.210 của Bùi Văn G; 01 điện thoại di động S, gắn sim số thuê bao 0384.891.558 của Vũ Văn O; 01 điện thoại di động Xiaomi-Redmi, gắn sim số thuê bao 0869.739.380 của Nguyễn Văn B, sử dụng liên lạc với nhau để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Kết luận giám định số 293/KL-KTHS ngày 11/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: Quá trình giám định có tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine trong mẫu chất màu đen bám dính bên trong coóng thủy tinh, được niêm phong trong phong bì gửi đến giám định. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng. H3 lại đối tượng giám định gồm 01 coóng thủy tinh và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định trong phong bì niêm phong số 293/KL-KTHS.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 08/6/2024 của Bùi Văn G, Nguyễn Văn T, Lê Văn Q, Vũ Văn O và Nguyễn Văn B đều dương tính với chất ma tuý, loại Methamphetamine.
Cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 20/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, h khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự; truy tố các bị cáo Bùi Văn G, Lê Văn Q, Vũ Văn O và Nguyễn Văn B về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Các bị cáo khai nhận như quá trình điều tra; bị cáo T xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là đúng, không oan; các bị cáo Bùi Văn G, Lê Văn Q, Vũ Văn O và Nguyễn Văn B đều xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương truy tố các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là đúng, không oan; các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Bùi Văn G, Nguyễn Văn T, Lê Văn Q, Vũ Văn O và Nguyễn Văn B đồng phạm phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm b, h khoản 2 Điều 255, Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Bùi Văn G, Lê Văn Q, Vũ Văn O và Nguyễn Văn B.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 08 năm 09 tháng đến 09 năm 03 tháng tù Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 12/6/2024.
Xử phạt bị cáo Bùi Văn G từ 08 năm 09 tháng đến 09 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 12/6/2024.
Xử phạt bị cáo Lê Văn Q từ 08 năm 06 tháng đến 08 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 12/6/2024.
Xử phạt bị cáo Vũ Văn O từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 12/6/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 07 năm 09 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 12/6/2024.
Không phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 coóng thủy tinh và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định trong phong bì niêm phong số 293/KL-KTHS; 01 vỏ chai nhựa không có nắp, nhãn chai ghi chữ “Number One”. 01 sim diện thoại số thuê bao 0961528616, 01 sim điện thoại số thuê bao 0326.300.xxx, 01 sim điện thoại số thuê bao 0975.803.xxx, 01 sim điện thoại số thuê bao 0384.891.xxx và 01 sim điện thoại số thuê bao 0869.739.xxx.
Tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động N1; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A13; 01 điện thoại di động Goly Base 35; 01 điện thoại di động Samsung Note 8 và 01 điện thoại di động Xiaomi-Redmi.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của các bị cáo và các chứng cứ xác định tội: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, phù hợp với vật chứng đã thu được và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 15 giờ ngày 07/6/2024, tại khu vực đê thuộc thôn P, xã B (nay là xã H), huyện K, tỉnh Hải Dương, Bùi Văn G, Nguyễn Văn T, Lê Văn Q, Vũ Văn O và Nguyễn Văn B có hành vi góp tiền mua ma túy, chuẩn bị chất ma túy, công cụ sử dụng ma túy để cho bản thân và 04 người khác cùng sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine.
Trong vụ án này, các bị cáo Bùi Văn G, Nguyễn Văn T, Lê Văn Q, Vũ Văn O và Nguyễn Văn B đều là người trực tiếp thực hiện tội phạm với vai trò thực hành tích cực, trong đó bị cáo Bùi Văn G là người liên hệ, kết nối để các bị cáo khác gặp nhau cùng sử dụng trái phép chất ma túy, có hành vi góp 100.000 đồng mua ma túy, cầm cố điện thoại cho T lấy tiền mua ma túy, rủ O và cùng O đi mua ma túy, chuẩn bị vỏ chai nhựa, lắp bộ dụng cụ để bản thân và T, Q, O, B cùng sử dụng trái phép chất ma túy nên giữ vai trò thứ nhất. Bị cáo Nguyễn Văn T có hành vi rủ G mua ma túy về sử dụng, góp 150.000 đồng mua ma túy, chuẩn bị các dụng cụ sử dụng ma túy; bị cáo Lê Văn Q có hành vi góp 250.000 đồng mua ma túy, cùng G và O đi mua ma túy, cho ma túy vào trong coóng; bị cáo Vũ Văn O là người trực tiếp mua ma túy, lấy nước cho vào vỏ chai nhựa để sử dụng ma túy; bị cáo Nguyễn Văn B có hành vi cùng với T chuẩn bị các dụng cụ sử dụng ma túy, cho ma túy vào trong coóng để bản thân và những người khác cùng sử dụng.
[3] Về định khung: Căn cứ lời khai nhận tội của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, căn cứ kết luận giám định số 293/KL-KTHS ngày 11/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: Quá trình giám định có tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine trong mẫu chất màu đen bám dính bên trong coóng thủy tinh, được niêm phong trong phong bì gửi đến giám định. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng. Methamphetamine nằm trong Danh mục II, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 08/6/2024 của Bùi Văn G, Nguyễn Văn T, Lê Văn Q, Vũ Văn O và Nguyễn Văn B đều dương tính với chất ma tuý loại Methamphetamine
Các bị các đều đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức đầy đủ và tự điều khiển hành vi của mình. Hành vi phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo có tính chất đồng phạm, các bị cáo cùng nhau góp tiền mua ma túy, chuẩn bị công cụ và hỗ trợ nhau sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn T, ngoài hành vi tổ chức cho bốn bị cáo Bùi Văn G, Lê Văn Q, Vũ Văn O và Nguyễn Văn B sử dụng trái phép chất ma túy thì bản thân bị cáo còn có hai tiền án: Bản án số 06/2020/HSST ngày 16/01/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, xử phạt Nguyễn Văn T 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, buộc T phải chấp hành hình phạt chung là 30 tháng tù. Ngày 22/12/2021, T chấp hành xong hình phạt tù. Bản án số 53/2022/HSST ngày 12/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xử phạt Nguyễn Văn T 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự). Ngày 30/6/2023, T chấp hành xong hình phạt tù. Cả hai bản án trên, bị cáo đều bị kết án về tội liên quan ma túy và đều chưa được xóa án tích, lại tiếp tục phạm tội về ma túy. Lần phạm tội này của bị cáo được xác định là tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự nên phải chịu thêm tình tiết định khung quy định tại điểm h khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Bùi Văn G: Bị cáo G là người liên hệ, kết nối để các bị cáo khác gặp nhau cùng sử dụng trái phép chất ma túy, có hành vi góp 100.000 đồng mua ma túy, cầm cố điện thoại cho T lấy tiền mua ma túy, rủ O và cùng O đi mua ma túy, chuẩn bị vỏ chai nhựa, lắp bộ dụng cụ để bản thân và T, Q, O, B cùng sử dụng trái phép chất ma túy nên giữ vai trò thứ nhất.
Bị cáo Nguyễn Văn T có hành vi rủ G mua ma túy về sử dụng, góp 150.000 đồng mua ma túy, chuẩn bị các dụng cụ sử dụng ma túy; bị cáo Lê Văn Q có hành vi góp 250.000 đồng mua ma túy, cùng G và O đi mua ma túy, cho ma túy vào trong coóng; bị cáo Vũ Văn O là người trực tiếp mua ma túy, lấy nước cho vào vỏ chai nhựa để sử dụng ma túy; bị cáo Nguyễn Văn B có hành vi cùng với T chuẩn bị các dụng cụ sử dụng ma túy, cho ma túy vào trong coóng để bản thân và các bị cáo khác cùng sử dụng. Các bị cáo T, Q, O và B với vai trò đồng phạm tích cực.
Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; truy tố các bị cáo Bùi Văn G, Lê Văn Q, Vũ Văn O và Nguyễn Văn B về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm, bị Pháp luật nghiêm cấm nhưng vì thỏa mãn nhu cầu nghiện ngập ma túy của bản thân nên vẫn cố ý phạm tội. Hành vi của các bị cáo không những xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy và trật tự an toàn xã hội mà còn gây hoang mang cho quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, do đó cần phải có hình phạt nghiêm khắc phù hợp với hành vi của các bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và răn đe phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự thì các bị cáo còn có thể bị phạt tiền sung vào ngân sách Nhà Nước, xét hoàn cảnh các bị cáo là người không có tài sản, không có thu nhập và đang bị giam giữ, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Xác định 01 coóng thủy tinh; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định trong phong bì niêm phong số 293/KL-KTHS; 01 vỏ chai nhựa không có nắp, nhãn chai ghi chữ “Number One”; 01 sim số thuê bao 0961528616; 01 sim số thuê bao 0326300430; 01 sim số thuê bao 0975803210; 01 sim số thuê bao 0384891558 và 01 sim số thuê bao 0869739380, là vật chứng của vụ án, các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, vật không có giá trị sử dụng, tịch thu tiêu hủy.
- - Xác định 01 điện thoại di động N1 225, 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A13, 01 điện thoại di động Goly Base 35, 01 điện thoại di động Samsung Note 8 và 01 điện thoại di động Xiaomi-Redmi các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà Nước
* Trong vụ án này:
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Bùi Văn G, Nguyễn Văn T, Lê Văn Q, Vũ Văn O và Nguyễn Văn B, ngày 22/6/2024 Công an huyện K đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với G, T, Q, O và B theo quy định, là phù hợp.
Đối với ông Nguyễn Văn G2 và bà Đặng Thị H1 cho các bị cáo T, Q mượn xe mô tô, tài liệu điều tra không có căn cứ xác định ông G2, bà H1 biết các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không đặt ra việc xử lý, là phù hợp.
Đối với người bán chất ma túy cho Vũ Văn O, tài liệu điều tra không xác định được là ai, ở đâu, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không có căn cứ để xử lý.
Đối với các số điện thoại 0961.528.xxx, 0326300430, 0384891558, 0975803210 và 0869739380, các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, ngày 05/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K có văn bản thông báo đến Tập đoàn C để thu hồi các số thuê bao trên theo quy định của Luật Viễn thông, là phù hợp.
[5] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí sơ thẩm hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Về điều luật áp dụng: Căn cứ điểm b, h khoản 2 Điều 255, Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Bùi Văn G, Lê Văn Q, Vũ Văn O và Nguyễn Văn B.
1/ Về tội danh: Tuyên bố: Các bị cáo Bùi Văn G, Nguyễn Văn T, Lê Văn Q, Vũ Văn O và Nguyễn Văn B đồng phạm phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
2/ Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 12/6/2024.
Xử phạt bị cáo Bùi Văn G 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 12/6/2024.
Xử phạt bị cáo Lê Văn Q 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 12/6/2024.
Xử phạt bị cáo Vũ Văn O 07 (bẩy) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 12/6/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 07 (bẩy) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 12/6/2024.
3/ Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 coóng thủy tinh và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định trong phong bì niêm phong số 293/KL-KTHS; 01 vỏ chai nhựa không có nắp, nhãn chai ghi chữ “Number One”; 01 sim số thuê bao 0961528616; 01 sim số thuê bao 0326300430; 01 sim số thuê bao 0975803210; 01 sim số thuê bao 0384891558 và 01 sim số thuê bao 0869739380.
- - Tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà Nước 01 điện thoại di động Nokia 225, 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A13, 01 điện thoại di động Goly Base 35, 01 điện thoại di động Samsung Note 8 và 01 điện thoại di động Xiaomi-Redmi.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 15 giờ 00 phút ngày 21/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Thành).
4/ Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo Bùi Văn G, Nguyễn Văn T, Lê Văn Q, Vũ Văn O và Nguyễn Văn B, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí sơ thẩm hình sự.
5/ Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Văn Trung |
Bản án số 07/2025/HSST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 07/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Gi + ĐB Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
