|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24/02/2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phan Văn Thể.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Giáp Văn Phẩm
2. Ông Vương Tiến Chuẩn
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên tòa: Ông Ngô Tiến Thụy - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 395/2024/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 155/2024/TLST- HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2024, và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990; (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (nay là Tổ dân phố C, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang).
- Bị đơn: Anh Lưu Văn T, sinh năm 1994; (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị và anh Lưu Văn T kết hôn với nhau vào ngày 24/02/2024, trước khi cưới có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Chị và anh T được gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, cưới xong chị về nhà anh T làm dâu ngay và sống chung cùng anh T tại thôn thôn Á, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tình cảm vợ chồng ban đầu hoà thuận, hạnh phúc. Đến tháng 06/2021 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã, không cùng nhau phát triển kinh tế, hiện tại không còn tình cảm với nhau. Gia đình họ hàng hai bên cũng có hòa giải cho vợ chồng nhưng không thành. Nay chị xác định vợ chồng mâu thuẫn đã trầm trọng cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lưu Văn T
- Về con chung: Chị và anh Lưu Văn T có 01 con chung là Lưu Đan Đ, sinh ngày 27/4/2021, hiện con chung đang ở với chị. Nay ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Cấp dưỡng nuôi con chung chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do công việc bận và một số lý do khách quan không thể tham gia phiên tòa xét xử vụ án, chị Nguyễn Thị H xin được vắng mặt tại phiên tòa
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Lưu Văn T, nhưng anh T không đến trụ sở Tòa án làm việc, cũng không cung cấp cho Tòa án bản bản tự khai hay tài liệu, chứng cứ gì.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự: Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị : Cho chị được ly hôn với anh Lưu Văn T.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Hồng N Lưu Đan Đ, sinh ngày 27/4/2021 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định pháp luật. Sau khi ly hôn anh Lưu Văn T có quyền thăm nom con, không ai được cản trở. Việc thăm nom con không được để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng là tiền tạm ứng án phí mà chị Nguyễn Thị H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo Biên lai thu số: 0006416 ngày 24 tháng 10 năm 2024
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết ly hôn với anh Lưu Văn T. Hiện nay anh Lưu Văn T có hộ khẩu thường trú tại thôn A, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Lưu Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị H và anh T theo thủ tục chung.
[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy:
[2.1].Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Lưu Văn T kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu trước khi kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 24/02/2024. Do vậy đây là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống ban đầu hòa thuận hạnh phúc nhưng đến tháng 06/2021 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không cùng nhau phát triển kinh tế, hiện hai vợ chồng không còn tình cảm với nhau. Chị H và anh T đã ly thân từ năm 2022 và từ đó đến nay không còn hỏi thăm, liên lạc gì với nhau nữa. Nay chị Nguyễn Thị H xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể chung sống với nhau được nữa; điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh T mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H, cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Lưu Văn T.
[2.2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Lưu Văn T có một con chung là Lưu Đan Đ, sinh ngày 27/4/2021 hiện đang ở cùng chị H. Sau khi ly hôn chị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Vì cháu Đ còn nhỏ nên cần giao cháu Đ cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục trăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị H không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[2.4] Về tài sản chung, công nợ chung: Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Lưu Văn T.
2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Hồng N Lưu Đan Đ, sinh ngày 27/4/2021 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định pháp luật. Sau khi ly hôn anh Lưu Văn T có quyền thăm nom con, không ai được cản trở. Việc thăm nom con không được để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai thu số 0006416 ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
Án xử công khai sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phan Văn Thể |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ |
|
Giáp Văn Phẩm Vương Tiến Chuẩn |
Phan Văn Thể |
Bản án số 07/2025/HNGĐ-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 07/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp con chung
