Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐOAN HÙNG

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24/01/2025

V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Vũ Thường

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Vũ Văn Võ
  • 2. Ông Nguyễn Trí Dũng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thành – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Kim Duyên - Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 150/2024/TLST-HNGĐ, ngày 09/10/2024, về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXX-ST ngày 10/01/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1979

Địa chỉ: Khu T, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1982

Địa chỉ: Khu T, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ

Chị C và anh N đều xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị C trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn N kết hôn năm 2021 trên cơ sở hai bên đều tự nguyện và có đăng ký tại UBND xã Q (nay là xã P), huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Trước khi lấy nhau, anh N đã ly hôn vợ, còn chồng chị đã chết. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau. Nay chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh N.

- Về con chung: Chị và anh N không có.

- Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết chị có đề nghị chia tài sản chung của chị và anh N là 01 ngôi nhà xây cấp 4. Tuy nhiên đến nay chị xin rút yêu cầu không đề nghị Tòa án chia tài sản chung nữa.

Tại biên bản lấy lời khai và trong quá trình giải quyết tại Tòa án, bị đơn là anh Nguyễn Văn N xác nhận việc kết hôn, quá trình vợ chồng chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn. Anh cũng xác định vợ chồng không còn tình cảm, chị C xin ly hôn anh nhất trí.

- Về con chung: Anh N và chị C không có.

- Về tài sản chung: Anh N xác nhận, khi về chung sống cùng nhau anh và chị C xây được 01 ngôi nhà (nhà cấp 4) trên thửa đất của gia đình nhà chồng trước của chị C cho chị C. Đến nay chị C rút yêu cầu không đề nghị chia tài sản chung nữa anh nhất trí và không đề nghị gì.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng phát biểu: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị C và anh Nguyễn Văn N.

- Về con chung: Không có.

- Về tài sản chung: Đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung của chị C do chị C rút yêu cầu. Chị C có quyền có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại việc chia tài sản chung sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị C và anh Nguyễn Văn N mỗi người phải nộp 75.000đ. Trả lại tiền tạm ứng án phí chia tài sản chung cho chị Nguyễn Thị C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng:

Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị C cư trú tại xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là anh Nguyễn Văn N cư trú cùng địa chỉ nên đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị C và anh N đều xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vụ án theo quy định.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị C và anh Nguyễn Văn N đăng ký kết hôn 2021 trên cơ sở hai bên đều tự nguyện tại UBND xã Q (nay là xã P), huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau. Đến nay chị C và anh N đều xác nhận về mâu thuẫn vợ chồng và hai người đã sống ly thân nhau. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị C và anh N đã căng thẳng, trầm trọng kéo dài, mục đích xây dựng một gia đình hạnh phúc, bền vững không đạt được. Do vậy việc chị C và anh N đều nhất trí ly hôn là tự nguyện, cần chấp nhận.

[2.2]. Về con chung: Chị C và anh N đều xác nhận không có nên không phải giải quyết.

[2.3]. Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết chị Nguyễn Thị C yêu cầu chia tài sản chung của chị và anh N. Tuy nhiên đến nay chị C có đơn xin rút yêu cầu chia tài sản chung, anh N không đề nghị gì về chia tài sản chung. Do vậy Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung của chị C. Chị C có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại việc chia tài sản chung sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị C và anh N thuận tình ly hôn nên mỗi người phải nộp 75.000đ (Bảy lăm nghìn đồng). Đối với số tiền tạm ứng án phí yêu cầu chia tài sản chung, do chị C rút đơn yêu cầu nên trả lại cho chị C.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 217, Điều 218, Điều 219, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị C và anh Nguyễn Văn N.
  2. Về con chung: Không có.
  3. Về tài sản chung: Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện việc chia tài sản chung của chị Nguyễn Thị C. Chị Nguyễn Thị C có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại việc chia tài sản chung sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị C và anh Nguyễn Văn N mỗi người phải nộp 75.000₫ (Bảy mươi lăm nghìn đồng). Số tiền chị C phải nộp được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.050.000₫ (Bốn triệu không trăm năm mươi nghìn đồng), theo biên lai số 0002323, ngày 03/10/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Trả lại cho chị Nguyễn Thị C số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.975.000₫ (Ba triệu chín trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).

Chị Nguyễn Thị C và anh Nguyễn Văn N có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện, tỉnh;
  • - Chi cục THADS huyện Đoan Hùng;
  • - UBND xã Phú Lâm;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Vũ Thường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HNGĐ-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 07/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: công nhận tại phiên tòa
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger