1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 07/2025/HS-ST Ngày 21 - 02 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Tình
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Chương và ông Võ Xuân Vinh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Loan - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Trọng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 05/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Phạm Văn T, sinh ngày 06/6/1995 tại thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú:
Tổ dân phố C, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Phạm Đình P và bà Nguyễn Thị S, con: chưa có; Tiền sự, tiền án: không; nhân thân: năm 2015 và 2021, bị Công an Phường Q Bvà Công an Thị xã Bxử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, ngày 13/02/2025, bị Cơ quan Điều tra Công an huyện Q về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, tại Quyết định khởi tố bị can số 14/QĐ-ĐCSHS-KTMT. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã B từ ngày 18/12/2024 cho đến nay. Theo lệnh trích xuất, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Quang L năm 2001
Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 15/12/2024, Phạm Văn T1 ở nhà tại tổ dân phố C, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bìnhthì nảy sinh ý định sử dụng ma tuý. Tđi bộ ra trước cổng chào của tổ dân phố C gặp một nam thanh niên (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) đang đứng ở bên đường. Thỏi và mua được từ nam thanh niên một đoạn ống nhựa màu hồng bên trong chứa ma túy đá với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, T2 giấu vào trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ tới chòi canh gác, bảo vệ nằm ở một bên ao nước thuộc tổ dân phố C, phường Q, thị xã B. Tđi vào trong chòi lấy 01 chai nhựa trong suốt có nắp đậy màu trắng, trong chai có chứa 02 đoạn ống nhựa màu xanh dương. Tdùng bật lửa hơ nóng rồi đục hai lỗ ở trên nắp chai, một lỗ Thành gắn một đoạn ống thủy tinh trong suốt, lỗ còn lại Tlấy 02 đoạn ống nhựa, một ống màu hồng, một ống màu xanh lá cây gắn lại với nhau rồi gắn đầu ống nhựa màu xanh lá cây vào lỗ. Sau khi làm xong bộ dụng cụ sử dụng ma túy, Tlấy ma túy đá vừa mua được đổ toàn bộ vào đầu ống thủy tinh của bộ D chuẩn bị. Tsử dụng bật lửa hơ nóng ma túy tạo khói rồi ngậm miệng vào đầu đoạn ống nhựa còn lại hút toàn bộ khói ma túy vào trong cơ thể. T3 sử dụng ma túy vừa ngồi chơi điện thoại tại chòi. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Nguyễn Quang L1 cùng tổ dân phố với Tsử dụng ứng dụng Messenger nhắn tin cho T4 ở đâu để đến chơi thì T5 lời ở chòi cá. Khi thấy L2, T6 “lại làm khói” (nghĩa là Trũ Lsử dụng ma túy đá), Ltrả lời “có thì làm khói, mới uống rượu”. Sau đó T7 bật lửa hơ ma túy, còn L3 miệng ngậm vào đầu ống nhựa của bộ dụng cụ hút ma túy vào trong cơ thể. Sau khi dùng hết ma tuý cả hai ngồi chơi trong chòi. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày thì lực lượng Công an thị xã B tiến hành kiểm tra, phát hiện, lập biên bản sự việc và thu giữ tại hiện trường một bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy và một số tang vật có liên quan.
Tại Bản kết luận giám định số 07/KL-KTHS ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Phòng KCông an tỉnh Qkết luận: Mẫu ký hiệu A1(01 chai nhựa trong suốt, có nắp bằng nhựa màu trắng, bên trong chai nhựa có chứa 02 đoạn ống nhựa màu xanh dương, nắp nhựa có 02 lỗ, lỗ thứ nhất gắn 01 đoạn ống nhựa màu xanh lá cây được nối dài với 01 đoạn ống nhựa màu hồng) không phát hiện chất ma tuý bám dính trên mẫu; Mẫu ký hiệu A2 (01 ống thuỷ tinh trong suốt gắn trên lỗ còn lại của nắp nhựa nêu trên) chất màu đen bám dính bên trong mẫu là chất ma tuý loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng do mẫu ít; Mẫu ký hiệu A3 (01 đoạn ống nhựa màu hồng) chất màu trắng bám dính bên trong mẫu là chất ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng do mẫu ít. Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự: 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ - CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.
Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B: 01 chai nhựa trong suốt có nắp đậy màu trắng, bên trong chai nhựa có chứa 02 đoạn ống nhựa màu xanh dương, trên nắp chai có 02 lỗ, trên một lỗ có gắn một đoạn ống nhựa màu xanh lá cây được nối dài với một đoạn ống nhựa màu hồng, lỗ còn lại
3
được gắn một ống thuỷ tinh màu trong suốt, đã qua sử dụng; 01 đoạn ống nhựa màu hồng, một đầu dán kín, một đầu hở, bên trong có bám dính chất màu trắng, đã qua sử dụng. Sau giám định được niêm phong bằng một túi niêm phong ký hiệu PS2, mã số PS2 23022575, bằng băng dính chuyên dụng màu đỏ, chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng KCông an tỉnh Qbên trong chứa: 01 chai nhựa trong suốt, có nắp đậy bằng nhựa màu trắng, trên nắp có 02 lỗ; 02 đoạn ống nhựa màu xanh dương (mỗi đoạn ống đã bị cắt thành hai phần trong quá trình giám định); 01 ống nhựa màu xanh lá cây (đã bị cắt thành hai phần trong quá trình giám định); 02 đoạn ống nhựa màu hồng (mỗi đoạn ống đã bị cắt thành hai phần trong quá trình giám định); 01 ống thủy tinh trong suốt; 01 túi nilon trong suốt; 01 túi niêm phong có ký hiệu PS1, mã số PS1 23023755 (đã bị cắt trong quá trình giám định). 01 bật lửa màu đỏ, trên bề mặt thân có in dòng chữ 555 VIP, đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu xanh, gắn thẻ sim số 0823565179, IMEI: 356579100967176; IMEI2: 356579100904336; Cụm camera sau có nứt vỡ, đã qua sử dụng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS MAX, màu trắng, gắn thẻ sim số 0817467476, IMEI: 357289092702461; IMEI2: 357289092681541, mặt kính lưng có nứt vỡ, đã qua sử dụng.
Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKSBĐ ngày 21/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, đã truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng. Đã xem xét đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 24 đến 30 tháng tù;
Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) túi đã được niêm phong, có ký hiệu PS2, mã số PS223022575 và 01 (Một) bật lửa, trên bề mặt có in dòng chữ 555 VIP.
Trả lại cho bị cáo Phạm Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu xanh, gắn thẻ sim số 0823565179, IMEI: 356579100967176; IMEI2: 356579100904336; Cụm camera sau có nứt vỡ, đã qua sử dụng và trả lại cho Nguyễn Q L01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS MAX, màu trắng, gắn thẻ sim số 0817467476, IMEI: 357289092702461; IMEI2: 357289092681541, mặt kính lưng có nứt vỡ, đã qua sử dụng. Buộc bị cáo Phạm Văn T8 chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn về tội danh, điều, khoản và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
4
như Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Phạm Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình: Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 15/12/2024, do có nhu cầu muốn sử dụng ma túy, nên T9 bộ ra trước cổng chào của tổ dân phố C mua của một người nam thanh niên (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) một đoạn ống nhựa màu hồng bên trong chứa ma túy đá với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, T9 bộ tới chòi canh gác, bảo vệ nằm ở một bên ao nước thuộc tổ dân phố C, phường Q, thị xã B. Tại đây T10 bị các công cụ và một mình sử dụng chất ma túy. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Nguyễn Quang L1 cùng tổ dân phố với Tsử dụng ứng dụng Messenger nhắn tin cho T4 ở đâu để đến chơi thì T5 lời ở chòi cá. Khi thấy L2, T11 rủ L4 sử dụng ma túy, bằng câu nói “lại làm khói”, đồng thời dùng bật lửa hơ nóng dụng cụ sử dụng ma túy để L4 sử dụng.
Tại Bản kết luận giám định số 07/KL-KTHS ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Phòng KCông an tỉnh Q, kết luật chất bám dính trên các dụng cụ đã thu giữ là Ma túy loại Methamphetamin, tuy nhiên do quá ít nên không xác định được khối lượng. Theo quy định M là một trong những chất ma túy rất độc hại, do nhà nước trực tiếp quản lý. Mọi hành vi sản xuất, mua, bán, vận chuyển, tổ chức sử dụng hay tàng trứ trái phép chất ma túy đều là vi phạm pháp luật. Bị cáo ý thức được việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, tuy nhiên nhằm để thỏa mãn nhu cầu bản thân, nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người liên quan cùng các chứng cứ, tài liệu đã thu thập và được thẩm tra tại phiên toà. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Phạm Văn T đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.
[3] Xét tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội: Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Phạm Văn T là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước trong việc quản lý, kiểm soát các chất kích thích, chất gây nghiện mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã
5
hội nói chung và gây sự bức xúc đối với nhân dân trên địa bàn nói riêng. Vì vậy căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự quyết định mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, nhưng có nhân thân xấu, năm 2015, 2021 đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về cùng hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; ngoài ra vào tháng 9 năm 2024 bị cáo đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, hiện đang bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Qkhởi tố điều tra theo quy định.
Quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, để xem xét khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.
[5] Về hình phạt: xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, đã nhiều lần có hành vi vi phạm liên quan đến ma túy, điều này thể hiện ý thức xem thường pháp luật của bị cáo, nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với một túi niêm phong ký hiệu PS2, mã số PS2 23022575, bên trong chứa: 01 chai nhựa trong suốt, có nắp đậy bằng nhựa màu trắng, trên nắp có 02 lỗ; 02 đoạn ống nhựa màu xanh dương; 01 ống nhựa màu xanh lá cây; 02 đoạn ống nhựa màu hồng; 01 ống thủy tinh trong suốt; 01 túi nilon trong suốt; 01 túi niêm phong có ký hiệu PS1, mã số PS1 23023755 và 01 bật lửa màu đỏ, trên bề mặt thân có in dòng chữ 555 VIP, đã qua sử dụng. Đây là những công cụ không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 02 chiếc điện thoại di động đã đã thu giữ của bị cáo và người liên quan Nguyễn Quang L5 trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.
[7] Về nguồn gốc ma túy, Phạm Văn T khai mua của một người nam thanh niên. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân lý lịch nên không đủ cơ sở để xử lý trong vụ án này.
[8]. Trong vụ án này, Nguyễn Quang L6 tiếp sử dụng ma túy cùng với bị cáo TTuy nhiên L7 góp tiền cùng T12 mua ma túy và cũng không trực tiếp tham gia vào việc chuẩn bị các công cụ, phương tiện, địa điểm để phục vụ cho việc sử dụng ma túy mà chỉ là người hưởng lợi. Vì vậy hành vi của Nguyễn Quang L7 đồng phạm với bị cáo T13 tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Cơ quan Điều tra đã chuyển hồ sơ đến cơ quan Công an thị xã B hành chính đối với Nguyễn Quang L8
[9] Về án phí: Bị cáo Phạm Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
6
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 28 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (Ngày 18/12/2024).
Tiếp tục tạm giam bị cáo với thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo cho việc thi hành án, theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.
- Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy: một túi niêm phong ký hiệu PS2, mã số PS2 23022575; 01 bật lửa màu đỏ, trên bề mặt thân có in dòng chữ 555 VIP,.
- - Trả lại cho bị cáo Phạm Văn T14 điện thoại di đồng và anh Nguyễn Quang L9 điện thoại di động.
Các vật chứng được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn, có đặc điểm mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/01/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã B và Chi cục Thi hành án án dân sự thị xã B.
- Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với người có mặt) hoặc kể từ ngày nhận được bản án, bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật (đối với người vắng mặt)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà- Phạm Hữu Tình |
7
Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 07/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
