|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án: 07/2025/HS-PT Ngày 21 tháng 02 năm 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Hương
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Vũ, Ông Nguyễn Hà Giang
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 102/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sơ thẩm số 35/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: HÀ VĂN T (Tên gọi khác: Bé), sinh năm 1992, tại xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: khu T, xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: 06/12; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Minh P sinh năm 1964 và bà Đỗ Thị T1, sinh năm 1966; Vợ, con: Chưa có.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 07/ QĐ- XPHC ngày 22/5/2023 và Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 09/ QĐ- XPHC ngày 21/8/2023, Hà Văn T bị xử phạt về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại Quyết định xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn S, ngày 18/9/2023, UBND xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ đã áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã P thị trấn đối với Hà Văn T, thời hạn là 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 18/12/2023, T đã chấp hành xong. Tính đến ngày 06/5/2024 (thời điểm T thực hiện hành vi phạm tội mới) chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/5/2024 đến ngày 10/5/2024 thì chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo:
-
Ông Nguyễn Hồng T2 và bà Trần Thị L – Đều là Luật sư thuộc Công ty L3 – Đoàn Luật sư thành phố H.
Địa chỉ: P, tầng F, số A đường H, phường N, quận C, thành phố Hà Nội. (Có mặt)
- Bà Phạm Thị T3 - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1957;
Địa chỉ: Khu T, xã M. huyện Y, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 06/5/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Hà Văn T, sinh ngày 12/01/1992, ở khu T, xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ đã sử dụng điện thoại di động của mình, nhãn hiệu iphoneXR, lắp số thuê bao 0983.836.118 gọi điện đến số thuê bao 0965.332.175 của Đinh Công Đ, sinh năm 1990, ở khu T, xã M, huyện Y, để rủ Đ sử dụng ma túy cùng mình. Nhưng do chưa có ma túy để sử dụng nên T nói với Đ biết chỗ nào mua được ma túy heroine, đi mua về để sử dụng chung, Đ đồng ý nhưng nói không có tiền, T nói sẽ đưa tiền cho Đ. Khoảng 10 phút sau, T đi bộ đến khu vực cây xăng thuộc xã M, huyện Y, đưa cho Đặng 200.000₫ để đi mua ma túy về sử dụng. Sau khi đưa tiền cho Đ, T đi về nhà và dùng điện thoại gọi điện đến số thuê bao 0329.178.864 của Nguyễn Đình C, sinh năm 1999, ở khu M, thị trấn Y, huyện Y, rủ C đến nhà T để sử dụng ma túy, C đồng ý.
Đối với Đ, sau khi T đưa tiền đã đi đến khu vực cầu M, thuộc xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ để tìm mua ma túy heroine. Tại đây, Đ đã mua 01 gói ma túy heroine có đặc điểm được gói bằng nilon màu trằng của một người đàn ông, Đ không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu, với giá 200.000đ. Sau khi mua được ma túy, Đặng Đ1 về nhà T đưa gói ma túy heroine cho T. T không nói cho Đ biết việc T rủ C đến nhà để sử dụng ma túy cùng. T cầm gói ma túy sau đó lấy chiếc chiếu để tại phòng bếp trải xuống nền để ngồi, lấy 01 chiếc bật lửa ga và một mảnh giấy, loại giấy chống ẩm của bao thuốc lá bóc bỏ phần giấy trắng ở một mặt, để lại phần giấy bạc để làm dụng cụ sử dụng ma túy. Khi T đang chuẩn bị các dụng cụ để sử dụng ma túy thì Đỗ Hải L1, sinh năm 2000, ở khu X, xã M, huyện Y, đến nhà T để bàn công việc đi làm thuê với nhau. Thấy L1 đến T rủ L1 sử dụng ma túy cùng. L1 đồng ý, ngồi xuống chiếu cùng T và Đ sử dụng ma túy. Khi đang chuẩn bị sử dụng thì Nguyễn Đình C đến, C ngồi xuống chiếu cùng với T, L1, Đ. Lúc này,T lấy gói ma túy heroine mà Đặng mua được lúc trước cho vào một mặt của tờ giấy bạc dùng bật lửa đốt để hít khói ma túy bay lên. T là người hít đầu tiên, sau đó T đốt cho C, L1, Đ để lần lượt hít, mỗi người hít 2 lần thì hết ma túy. Sau khi sử dụng ma túy xong Đ, C đi về, còn L1 tiếp tục ngồi nói chuyện với T về việc đi làm thuê cùng nhau.
Đến 15 giờ 10 phút, ngày 06/5/2024, thì bị tổ công tác của Công an huyện Y, phát hiện, kiểm tra, lập biên bản, thu giữ, niêm phong vật chứng gồm: 01 mảnh nilon màu trắng, một mặt có bám dính chất bột màu trắng, 01 mảnh giấy loại giấy chống ẩm của bao thuốc lá đã bị than hóa một phần và 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ. Quá trình xác minh nhận thấy có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự, Công an huyện Y đã chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Y để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 06/5/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định Phòng KTHS Công an tỉnh P giám định chất bám dính trên bề mặt mảnh nilon màu trắng có phải là ma túy không? Loại ma túy gì? Có xác định được khối lượng không? Giám định mảnh giấy chống ẩm trong bao thuốc lá, một phần đã bị than hóa màu đen có bám dính chất ma túy không? Loại ma túy gì? Có xác định được khối lượng không?
Tại Kết luận giám định số 640 ngày 09/5/2024 của Phòng KTHS- Công an tỉnh P, kết luận:
- Chất bột màu trắng bám dính trên một mặt của mảnh nilon màu trắng trong bì niêm phong gửi đến giám định là ma túy heroine. (Chất bột màu trắng bám dính trên mảnh nilon ở dạng lượng vết nên không xác định được khối lượng trên cân phân tích 3 số).
- 01 mảnh giấy loại giấy chống ẩm trong bao thuốc lá, một phần đã bị than hóa màu đen trong bì niêm phong gửi đến giám định tìm thấy chất ma túy heroine,(Chất ma túy bám dính trên mảnh giấy ở dạng lượng vết nên không xác định được khối lượng trên cân phân tích 3 số).
Heroin (hay Heroine,D); số thứ tự 9, D1 mục IA, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.
Ngày 06/5/2024, Cơ quan điều tra đã thu mẫu, xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu đối với Hà Văn T, Nguyễn Đình C, Đỗ Hải L1, Đinh Công Đặng . Kết quả T, C, L1, Đ, dương tính với chất ma túy, loại heroine. Cơ quan điều tra đã yêu cầu Trung tâm Y tế huyện Y xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Nguyễn Đình C, Đỗ Hải L1, Đinh Công Đặng . Ngày 10/5/2024, Trung tâm Y tế huyện Y có kết quả kết luận Đinh Công Đ, Đỗ Hải L1, Nguyễn Đình C không nghiện ma túy.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai của người liên quan, lời khai và các biên bản hỏi cung của bị cáo, với vật chứng thu giữ và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản án hình sơ thẩm số 35/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 255; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Hà Văn T 08 (T4) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 07/5/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hà Văn T.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyền về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 04/10/2024, bị cáo Hà Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa, bị cáo T giữ nguyên toàn bộ nội dung kháng cáo.
Trước khi xét xử phúc thẩm, ông Nguyễn Hồng T2 và bà Trần Thị L là người bào chữa cho bị cáo nộp bổ sung tài liệu chứng cứ. Tại phiên tòa, ông T2, bà L đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận các tài liệu, chứng cứ mới giao nộp tại cấp phúc thẩm làm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo để xem xét áp dụng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo văng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt và gửi luận cứ xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo Hà Văn T. Giữ nguyên Bản án hình sơ thẩm số 35/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ
Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 255; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Hà Văn T 08 (T4) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 07/5/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hà Văn T.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Hà Văn T được miễn án phí hình sự phúc thẩm
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Hà Văn T trong hạn luật định, đơn kháng cáo hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa, theo đề nghị của Người bào chữa cho bị cáo, Hội đồng xét xử chấp nhận đưa Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1957; Địa chỉ: Khu T, xã M. huyện Y, tỉnh Phú Thọ tham gia với tư cách là Người làm chứng, theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về những chứng cứ xác định có tội: Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, xác định được như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 06/5/2024, T đã có hành vi đưa cho Đinh Công Đ số tiền 200.000 đồng đi mua 01 gói ma túy heroin. Sau khi có ma túy, T đã cung cấp, chuẩn bị công cụ cho Đỗ Hải L1, Đinh Công Đ, Nguyễn Đình C, sử dụng trái phép chất ma tuý tại nhà ở của Hà Văn T, ở khu T, xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ.
Tại phiên tòa các cấp, T đã thừa nhận toàn bộ hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy loại Heroin cho người khác. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Hà Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[2.2] Về kháng cáo của bị cáo Hà Văn T xin giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Bị cáo Hà Văn T phạm tội thuộc loại tội rất nghiêm trọng. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận thức được hành vi cung cấp ma túy, chuẩn bị công cụ để đưa trái phép chấp ma túy vào cơ thể người khác là vi phạm pháp luật, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy, là nguyên nhân gây mất trật tự trị an xã hội, là nguyên nhân gây nên nhiều tệ nạn trong xã hội, xong vì để thỏa mãn nhu cầu không chính đáng của bản thân và những đối tượng khác bị cáo vẫn cố ý thực hiện.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Tuy nhiên xét về nhân thân, bị cáo T có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị Cơ quan chức năng xử phạt hành chính và áp dụng biện pháp xử lý hành chính về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm cho bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các cấp, bị cáo Hà Văn T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo T còn là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Hà Văn T hình phạt 08 (T4) năm tù, cách ly bị cáo T ra khỏi xã hội một thời gian là phù hợp.
Tại cấp phúc thẩm, luật sư bảo chữa cho bị cáo nộp các tài liệu, chứng cứ mới và đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ mới cho bị cáo vì cho rằng bị cáo đã cứu giúp ông Nguyễn Văn S không bị đuối nước, có xác nhận của người làm chứng là bà Bùi Thị T5, anh Đinh Vũ Q kèm theo nhiều tài liệu cho rằng gia đình bị cáo có công với cách mạng.
Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã có công văn xác minh về việc bị cáo đã cứu giúp ông Nguyễn Văn S không bị đuối nước. Tại phiên tòa, mặc dù ông Nguyễn Văn S trình bày là người được cho là được bị cáo T cứu giúp, cùng xác nhận của một số người làm chứng, công văn của UBND xã. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử nhận thấy, theo lời trình bày của ông S và người biết việc thì thời điểm xảy ra sự việc ông S bị rơi xuống nước chính là thời điểm mà bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Đối với các tài liệu 01 bản sao chứng thực kỷ niệm chương của ông Hà Minh P là bố của bị cáo, 01 bản sao chứng thực huân chương kháng chiến hạng ba của ông Hà Văn H, bà Hoàng Thị L2, ông Đỗ Tiến T6 là ông bà nội ngoại của bị cáo, 01 bản sao chứng thực huân chương chiến sỹ vẻ vang của ông Hà Đại N, 01 giấy chứng nhận hộ nghèo, xét thấy các tài liệu này được xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xong xét về nhân thân của bị cáo, xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội thì không có cơ sở để giảm hình phạt cho bị cáo. Nên kháng cáo xin giảm nhẹ của bị cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa là phù hợp nên được chấp nhận. Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo là không phù hợp nên không được chấp nhận.
[4] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận, xong Bị cáo Hà Văn T là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo Hà Văn T. Giữ nguyên Bản án hình sơ thẩm số 35/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ
[2] Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 255; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Hà Văn T 08 (T4) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 07/5/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hà Văn T.
[3] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Hà Văn T được miễn án phí hình sự phúc thẩm
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Hương |
Bản án số 07/2025/HS-PT ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 07/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hà Văn T
