|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 21-02-2025
“V/v ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Danh Thị Kiều Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Danh Út Nhỏ
Ông Võ Văn Liềm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên tòa: Bà Thị Xà Ly– Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 198/2024/TLST-HNGĐ ngày 9 tháng 7 năm 2024 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22/01/2025 giữa:
- Nguyên đơn: bà Trần Thị Kim N, sinh năm 1984 (Có mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang
- Bị đơn:ông Nguyễn Đình H, sinh năm 1959 (Vắng mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 24/6/2024, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơnbà Trần Thị Kim N như sau: Năm 2015 bà N và ông Nguyễn Đình H có quen biết tìm hiểu nhau được gần một năm thì ông bà quyết định kết hôn với nhau, ông bà có tổ chức đám cưới năm 2016 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang ngày 24/5/2016. Sau khi cưới, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai người không hợp, bất đồng quan điểm về nơi sống, ông H yêu cầu bà N về ngoài Bắc sống nhưng bà không đồng ý, hai bên không có tiếng nói chung về quyết định nơi sống nên từ đó hai người đã tự ly thân mỗi người sống một nơi từ năm 2022 đến nay. Trong thời gian ly thân, bà và ông H cũng không gặp nhau và rất ít liên lạc với nhau, bà đã suy nghĩ rất kỹ và bà cũng không còn tình cảm yêu thương dành cho ông H và xác định không thể hàn gắn hôn nhân được nữa nên bà N quyết định ly hôn với ông H. Bà N xác định không có con chung, không có tài sản chung và cũng không có nợ chung.
Tại phiên tòa,bà Trần Thị Kim N yêu cầu Tòa án giải quyếtvề hôn nhân bà N yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Đình H. Bà N xác định không có con chung, không có tài sản chung và cũng không có nợ chung nên bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn ông Nguyễn Đình H không có mặt tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật nhưng ông H không có mặt cũng không cung cấp bản tự khai cho Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của ông.
Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng; việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơnchấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định nhưng đều vắng mặt là không tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xửáp dụng Điều 56Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:Tuyên xử chấp cho bà Trần Thị Kim N được ly hôn với ông Trần Đình H. Về con chung, tài sản chung và nợ chung bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó không đề nghị xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về tố tụng: bà Trần Thị Kim N yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Đình H. Bị đơn có địa chỉ tại ấp T, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang nên Tòa án nhân dân huyện Gò Quao xác định quan hệ pháp luật “ly hôn” và thụ lý, giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Ông Nguyễn Đình H với tư cách là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng ông H vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án vẫn được xét xử theo quy định.
[2] Về hôn nhân: Bà Trần Thị Kim N và ông Nguyễn Đình H có quen biết tìm hiểu nhau được gần một năm thì ông bà quyết định kết hôn với nhau, ông bà có tổ chức đám cưới năm 2016 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang số 57/2016 ngày 24/5/2016 theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Xét yêu cầu của bà N được ly hôn với ông H do hai người không hợp, bất đồng quan điểm về nơi sống, hai bên không có tiếng nói chung về quyết định nơi sống nên từ đó hai người đã tự ly thân mỗi người sống một nơi từ năm 2022 đến nay. Đối với ông H, Tòa án đã nhiều lần tống đạt và thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng trong đó có 02 lần tống đạt Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đểtạo điều kiện cho vợ chồng ông bà hòa giải, đoàn tụ với nhau nhưng ông H đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được.
Tại phiên tòa, bà N cho rằng trong thời gian ly thân, bà và ông H cũng không gặp nhau và rất ít liên lạc với nhau, bà đã suy nghĩ rất kỹ và bà cũng không còn tình cảm yêu thương dành cho ông H và xác định không thể hàn gắn hôn nhân được nữa nên bà N quyết định ly hôn với ông H. HĐXX thấy rằng, do trước khi kết hôn ông bà đã không tìm hiểu kỹ cá tính của nhau và hai người cũng không có kế hoạch sẽ sống với nhau ở đâu nên sau thời gian chung sống giữa bà N, ông H mới phát sinh sự bất đồng quan điểm, từ đóhai người không còn duy trì được tình yêu thương dành cho nhaunên khi xảy ra mâu thuẫn không giải quyết được và hai người đã tự ly thân từ năm 2022 đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng hôn nhân của hai người đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N là phù hợp.
[3]Về con chung, tài sản chung và nợ chung: bà N xác định vợ chồng bàkhông cócon chung, không có tài sản chung và cũng không có nợ chung nên bàkhông yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, HĐXX không xem xét.
[4]Đối với bị đơn ông Nguyễn Đình H Tòa án tiến hành thẩm tra, xác minh cho thấy ông H thường xuyên vắng mặt ở nơi cư trú, không rõ thời điểm trở về và không xác định được địa chỉ nơi cư trú mới. Tòa án căn cứ khoản 5 Điều 177, Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 tiến hành thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng đối với ông H theo quy định nhưng ông H vẫn không có mặt không có lý do và ông H cũng không gửi bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến và yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà N cho Tòa án nên HĐXX không thể xem xét nguyện vọng của ông.
[5]Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ phù hợp với quy định pháp luật nên HĐXX chấp nhận.
[6] Về án phí: bằng 300.000đồng bà Nphải nộp do bà Ncó yêu cầu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 177, Điều 179, Điều 227 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9,Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệphí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân:Chấp nhận cho bà Trần Thị Kim N được ly hôn với ông Nguyễn Đình H.
2. Về con chung, vềtài sản chung, nợ chung: Miễn xét
3.Về án phí hôn nhân sơ thẩm:bà Trần Thị Kim N phải nộp án phí là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng (ba trăm ngànđồng) tạm ứng án phí mà bà N đã nộp theo biên lai thu số 0006059 ngày 09/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, bà N đã nộp xong án phí HNST.
4.Bà N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án ngày 21/02/2025. Ông H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
“Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 9, Điều 7, Điều 7a, 7b Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Danh Thị Kiều Oanh |
Bản án số 07/2025/HNGĐ-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 07/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Trần Thị Kim N yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Đình H
