|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 07/2025/HS-ST Ngày 20-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Mai Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Sửu
Ông Đào Xuân Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Lan Phương, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên toà:
Ông Vi Văn Cảnh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đức V; tên gọi khác: không; sinh ngày 15 tháng 6 năm 1996 tại huyện T; nơi thường trú: Thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1; vợ, con: chưa có;
Tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 23/4/2024, Tòa án nhân dân huyện Tân Yên xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong án phí ngày 12/6/2024, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/9/2024;
Tiền sự:
- - Ngày 22/12/2023, bị Công an xã Q, huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”;
- - Ngày 29/02/2024, bị Công an huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.500.000đ về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; Nhân thân: Không có;
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/11/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Cộng đồng dân cư thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Trần Thị D, sinh năm 1959, nơi thường trú: Thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1943; nơi cư trú: Thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 10 phút ngày 22/11/2024, Công an xã Q, huyện T tiếp nhận đơn trình báo của bà Trần Thị D là người được giao quản lý trông coi chùa " 284" thuộc thôn B, xã Q, trình báo về việc chùa " bị kẻ gian trộm cắp tài sản số tiền khoảng 700.000 đồng để trong hòm công đức.
Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày, Công an xã Q đang đi làm nhiệm vụ thì gặp Nguyễn Đức V đang đi ở khu vực bờ mương thuộc thôn B, xã Q, huyện T. Do nghi ngờ V trộm cắp tài sản của chùa " nên Công an xã đã mời Nguyễn Đức V về trụ sở làm việc, khi đến trụ sở Công an xã Q, V xin đầu thú về hành vi trộm cắp tiền trong hòm công đức của chùa thôn B, xã Q. Quá trình tiếp nhận đầu thú, Công an xã Q đã tạm giữ của V: 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng có số Seri ZQ 17079885, 01 xe đạp màu trắng, khung xe có chữ “Wahama”, lồng xe bằng nhựa đã bị vỡ, xe cũ đã qua sử dụng; 01 áo cộc tay không cổ màu đen, ngực áo có nhiều họa tiết hình tia sét, màu trắng, đã qua sử dụng; 01 quần cộc màu đen, mặt trước ống quần có họa tiết màu trắng, cũ đã qua sử dụng; 01 đôi dép lê màu xám, có chữ “NIKE” màu đỏ, cũ đã qua sử dụng. V khai tờ tiền 100.000 đồng là do V lấy ra từ số tiền vừa trộm cắp được trong chùa (BL 33).
Căn cứ lời khai của Nguyễn Đức V, Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường. Kết quả khám nghiệm hiện trường thu giữ tại chùa " 01 hòm công đức, 01 đĩa nhựa bên trong có nhiều mảnh thủy tinh vỡ và 01 khăn lau. (BL 70-71).
Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp ngôi nhà mà Nguyễn Đức V đang ở tại thôn B, xã Q thuộc sự quản lý của ông Nguyễn Tiến H sinh năm 1957 ở cùng thôn (là bác ruột của V). Quá trình khám xét đã phát hiện và thu giữ tại ngăn trên cùng trên tủ gỗ đứng có 01 túi nilon màu xanh bên trong có nhiều tờ tiền Ngân hàng N. Qua kiểm đếm xác định tổng số tiền là 639.500 đồng (sáu trăm ba mươi chín nghìn năm trăm đồng) gồm 23 tờ mệnh giá 500 đồng, 91 tờ mệnh giá 1.000 đồng, 16 tờ mệnh giá 2.000 đồng, 11 tờ mệnh giá 5.000 đồng, 22 tờ mệnh giá 10.000 đồng, 04 tờ mệnh giá 20.000 đồng, 01 tờ mệnh giá 50.000 đồng, 01 tờ mệnh giá 100.000 đồng. V khai đây là số tiền V vừa trộm cắp được trong hòm công đức trong chùa ở thôn B, xã Q (BL 83-84).
Tại Kết luận định giá số 01/KL-ĐGTS ngày 06/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 cánh cửa gỗ, loại gỗ tạp, kích thước (0,59x2,19)m, độ dày 1,5cm, bị vỡ khuyết gỗ kích thước (0,11x2,19)m, làm mới năm 2014, trị giá 70.000₫ (Bảy mươi nghìn đồng); 01 tấm kính bằng thủy tinh trong suốt, kích thước (38x28)cm, độ dày 4mm, bị vỡ thành nhiều mảnh, làm mới năm 2021, trị giá 45.000đ (Bốn mươi năm nghìn đồng) (BL 59).
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác định hành vi phạm tội của Nguyễn Đức V cụ thể như sau: Nguyễn Đức V là người đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên chưa được xóa án tích. Sau khi chấp hành án trở về địa phương, V đến ở tại ngôi nhà của ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1931 ở thôn B, xã Q (là ông ngoại của V, đã chết) do ông Nguyễn Tiến H quản lý. Do không có công ăn việc làm nên V nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản để lấy tiền chi tiêu cá nhân. Khoảng 09 giờ ngày 22/11/2024, V một mình điều khiển xe đạp ra chùa " – 284" thuộc thôn B, xã Q, huyện T mục đích để xem có tài sản gì không sẽ trộm cắp. Tuy nhiên khi ra đến chùa, V thấy có người dân làm đồng cạnh đó nên V đã điều khiển xe đạp về. Khoảng 11 giờ cùng ngày, V lại tiếp tục đi xe đạp đến chùa " – 284”. Khi đến chùa, lúc này khoảng 11 giờ 20 phút, V dựng xe đạp ở sân chùa, lúc này có ông Lê Văn Đ, sinh năm 1963, trú quán thôn B, xã Q đi qua nhìn thấy V dựng xe đi vào chùa. Sau khi dựng xe xong V đi đến vị trí cửa chùa, V thấy cửa chùa làm bằng gỗ đang được khóa, V tiến đến đứng đối diện cách cửa khoảng 70cm, dơ chân phải lên đạp khoảng 02 – 03 cái thì cánh cửa bật ra. V đi vào bên trong thấy có 01 hòm công đức bằng gỗ có mặt kính, bên trong hòm có tiền. V lấy 01 miếng rẻ ở bên cạnh, quấn kín vào tay phải, lúc này tay trái của V giữ phần trên đỉnh của hòm, còn tay phải của V đấm khoảng 02 – 03 phát vào mặt kính của hòm công đức thì kính vỡ ra. V vứt miếng rẻ ra bên cạnh, nhặt lấy 01 túi ninlon màu xanh ở gần đó rồi nhặt toàn bộ số tiền trong hòm công đức đút vào túi nilon, sau đó đi về. Khi về nhà V cất túi nilon đựng tiền vào ngăn tủ gỗ trong nhà đang ở, V lấy 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng trong số tiền mà V trộm cắp được đem đi mục đích để chi tiêu, tuy nhiên khi đi đến khu vực bờ mương thuộc thôn B, xã Q thì lực lượng Công an xã Q mời về trụ sở làm việc nên V đã xin đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản, đồng thời Việt giao nộp tài sản vật chứng như đã nêu trên.
Ngày 25/11/2024, Cơ quan điều tra tiến hành cho Nguyễn Đức V thực nghiệm điều tra diễn lại hành vi trộm cắp tài sản. Kết quả thực nghiệm điều tra, V thực hiện thuần thục các động tác trộm cắp tài sản. (BL 93).
Đối với chiếc xe đạp màu trắng, khung xe có chữ “Wahama”, quá trình điều tra xác định đây là tài sản của ông Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1943, trú quán thôn B, xã Q, huyện T cho V mượn để đi lại, ông T2 không biết V đã sử dụng chiếc xe đạp trên để đi trộm cắp tài sản nên ông T2 không vi phạm pháp luật, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe đạp trên cho ông T2 quản lý (BL 146).
Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 100.000đ thu giữ khi V đầu thú và số tiền 639.500 đồng thu giữ khi khám xét nơi ở của Nguyễn Đức V đều là tiền do V trộm cắp được trong hòm công đức trong chùa; Chiếc hòm gỗ, đĩa nhựa, khăn, túi nilon màu xanh đựng các mảnh thủy tinh là tài sản của thôn B, xã Q, huyện T. Ngày 16/01/2025, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại số tiền 739.500 đồng, hòm, đĩa nhựa, khăn, túi nilon đựng các mảnh thủy tinh cho thôn B do bà Trần Thị D đại diện.
Nguyễn Đức V có hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản là cánh cửa và kính hòm công đức của chùa, tuy nhiên giá trị thiệt hại hư hỏng dưới 2.000.000đ, bản thân V chưa có tiền án, tiền sự về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản. Do đó hành vi của V không cấu thành tội phạm nên ngày 14/01/2025 Công an huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 3.500.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Trần Thị D là người đại diện theo ủy quyền của thôn B đã được nhận lại toàn bộ số tiền do V trộm cắp đồng thời không yêu cầu bị cáo V phải bồi thường thiệt hại hư hỏng cảnh cửa và kính hòm công đức.
Tại bản Cáo trạng số: 12/CT-VKS ngày 21/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức V về tội “Trộm cắp tài sản”, theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Sau khi kết thúc việc xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên đã trình bày luận tội đối với bị cáo, phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức V từ 10 (mười) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 22/11/2024.
Ngoài ra, còn đề cập đường lối xử lý về vật chứng và tiền án phí.
Bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người đúng tội, bị cáo không bị oan và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Về việc người tham gia tố tụng vắng mặt: Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét thấy người này đã có lời khai thể hiện quan điểm trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố; L khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội đầu thú và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 22/11/2024, tại thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Đức V là người đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên chưa được xoá án tích đã có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 739.500 đồng (Bẩy trăm ba mươi chín nghìn năm trăm đồng) ở hòm công đức của chùa " – 284" của thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; hành vi của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp; đã xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu tài sản được pháp luật hìnhsự bảo vệ.
Do vậy, đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Đức V phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người đúng tội.
[4] Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật; Bị cáo từng có tiền án về hành vi trộm cắp tài sản của người khác nên bản thân bị cáo cũng hiểu rõ người nào cố ý chiếm đoạt tài sản của người khác sẽ bị pháp luật trừng trị. Bị cáo cũng vừa chấp hành hình phạt tù xong vào ngày 03/9/2024 nhưng lại tiếp tục phạm tội chiếm đoạt tài sản của người khác. Do đó, đối với hành vi của bị cáo cần phải xử lý hình sự và cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
[5] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo đảm bảo việc răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Hình phạt và mức hình phạt như vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp so với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, tuy nhiên Hội đồng xét xử nhận thấy có thể áp dụng mức hình phạt thấp hơn đề nghị của Viện kiểm sát vẫn bảo đảm được tính nghiêm minh của pháp luật đồng thời thể hiện sự khoan hồng đối với người phạm tội.
Bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
[8] Đối với ông Nguyễn Tiến H không biết việc V đi trộm cắp và cất giấu tiền trộm cắp tại nhà do ông H quản lý nên ông H không vi phạm pháp luật. Đối với chiếc xe đạp màu trắng, khung xe có chữ “Wahama”, quá trình điều tra xác định đây là tài sản của ông Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1943, trú quán thôn B, xã Q, huyện T cho V mượn để đi lại, ông T2 không biết V đã sử dụng chiếc xe đạp trên để đi trộm cắp tài sản nên ông T2 không vi phạm pháp luật.
[9] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với số tiền 739.500 đồng, hòm, đĩa nhựa, khăn, túi nilon đựng các mảnh thủy tinh Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại, đối với chiếc xe đạp màu trắng, khung xe có chữ “Wahama” Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Ngọc T2 là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Đối với 01 áo cộc tay không cổ màu đen, ngực áo có nhiều họa tiết hình tia sét, màu trắng, 01 quần cộc màu đen, mặt trước ống quần có họa tiết màu trắng, 01 đôi dép lê màu xám, có chữ “NIKE” màu đỏ là trang phục của V mặc khi đi trộm cắp tài sản không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp với điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại các điều135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các điều331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức V 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 22/11/2024.
2. Về việc xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 áo cộc tay không cổ màu đen, ngực áo có nhiều họa tiết hình tia sét, màu trắng, 01 quần cộc màu đen, mặt trước ống quần có họa tiết màu trắng, 01 đôi dép lê màu xám, có chữ “NIKE” màu đỏ.
(Vật chứng của vụ án như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên.)
3. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Mai Hương |
Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 07/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức Việt - Trộm cắp tài sản
