Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG NINH

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

Bản án số: 07/2025/HS-ST

Ngày 20-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nam

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Cường và ông Trần Minh Nhân

Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Ngọc Anh, Thư ký Toà án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Mận - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án án nhân dân huyện Q, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 05/2025/TLST- HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS ngày 06/02/2025 đối với các bị cáo:

  1. Bị cáo Hoàng Ngọc T; sinh ngày 11 tháng 02 năm 1992; tại tỉnh Quảng Bình. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn D, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Hoàng Thanh X và bà Nguyễn Thị T1; có vợ: Mai Thị Ngọc B; có 02 con, con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/10/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt tại phiên tòa.

  2. Bị cáo Lê Hồng M; Sinh ngày 18 tháng 10 năm 1994; tại Quảng Bình. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Thợ cơ khí; con ông Lê Quang V và bà Phạm Thị G; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/10/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Ngọc T: Ông Phan Trọng H, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q, có mặt.

2

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Hoàng Thị Lệ Q, sinh năm 1995; nghề nghiệp: Nội trợ, địa chỉ: Thôn D, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt.
  • - Ông Nguyễn Hồng N, sinh năm 1991; nghề nghiệp: Lao động tự do, địa chỉ: Thôn D, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt.
  • - Bà Bùi Thị H1, sinh năm 1968; nghề nghiệp: Buôn bán, địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 04/10/2024, Hoàng Ngọc T (sinh năm 1992, ở thôn D, G, Quảng Ninh, Quảng Bình) dùng điện thoại di động gọi điện qua ứng dụng Messenger cho Lê Hồng M (sinh năm 1994, ở thôn P, G, Quảng Ninh, Quảng Bình) để hỏi mua ma túy, M trả lời không có, T nhờ M đi mua ma túy giùm T, M đồng ý.

Khoảng 18 giờ 00 phút, Lê Hồng M điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER BKS: 73G1-077.84 đi từ nhà Mỹ ra ngã ba đầu ngõ giao với Quốc lộ A (bên cạnh Trụ sở UBND xã G) dừng xe đứng đợi Hoàng Ngọc T. T mượn xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH BKS: 73G1-214.36 của chị Hoàng Thị Lệ Q (sinh năm 1995, ở thôn D, G, Quảng Ninh, Quảng Bình) rồi chạy xe đến gặp Mỹ. T đưa cho M số tiền 540.000 đồng (năm trăm bốn mươi nghìn đồng), trong đó 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) T đưa để M mua ma túy giúp T, 40.000 đồng (bốn mươi nghìn đồng) là tiền công M đi lấy ma túy cho T. Sau đó, Lê Hồng M điều khiển xe mô tô chạy về hướng khu vực ngã tư dọc đường tránh lũ đoạn thuộc địa phận xã H, L, Quảng Bình mua ma túy (Mỹ khai mua từ một người đàn ông không quen biết) với giá 450.000 đồng (bốn trăm năm mươi nghìn đồng) đưa về giao cho T tại nhà của M ở thôn P, G, Quảng Ninh, Quảng Bình.

Đến khoảng 18 giờ 40 phút, khi Hoàng Ngọc T chạy từ nhà của Lê Hồng M ra đến đoạn đường ngõ ở sát tường rào phía Nam của Trụ sở UBND xã G thì bị Công an xã G kiểm tra, phát hiện ở trong lòng bàn tay trái của T có cầm 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Sài Gòn màu bạc, bên trong vỏ bao thuốc lá có chứa 01 (một) gói giấy màu bạc, bên trong gói giấy có chứa 01 (một) gói nilon trong suốt, bên trong gói nilon có chứa 13 (mười ba) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng và 01 (một) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu xanh. Hoàng Ngọc T khai nhận 13 (mười ba) viên nén màu hồng nói trên là ma túy tổng hợp dạng hồng phiến, còn viên nén màu xanh không phải là ma túy mà là viên hút ẩm trong gói ma túy. T khai vừa mua từ Lê Hồng M đang cất giấu trên người để đưa về sử dụng. Lê Hồng M mua số ma túy trên với giá 450.000 đồng (bốn trăm năm mươi nghìn đồng) bán lại cho T 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), M lời 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) cộng với số tiền T tự nguyện trả tiền công cho M 40.000 đồng (bốn mươi nghìn đồng). Tổng số tiền M hưởng lợi từ việc mua ma túy cho T là 90.000 đồng (chín mươi nghìn đồng).

3

Tại Bản kết luận giám định số 1096/KL-KTHS ngày 11/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận:

  • - 13 viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng thu giữ khi bắt quả tang Hoàng Ngọc T là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 1,287g (một phẩy hai trăm tám mươi bảy gam).
  • Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự: 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.
  • - 01 viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu xanh thu giữ khi bắt quả tang không phải là chất ma túy, khối lượng: 0,097g (không phẩy không trăm chín mươi bảy gam).

* Về thu giữ, tạm giữ vật chứng, đồ vật, tài liệu:

  • - Ngày 04/10/2024, trong quá trình bắt quả tang Hoàng Ngọc T, Công an xã G đã thu giữ gồm:
    • + 01 (một) gói giấy màu bạc, bên trong có chứa 01 (một) gói giấy nilon trong suốt, bên trong gói nilon chứa 13 (mười ba) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng và 01 (một) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu xanh;
    • + 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Sài Gòn màu bạc;
    • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO FI1 Pro, màu đen, số IMEI 1: 863980046260377, số IMEI 2: 863980046260369, điện thoại đã qua sử dụng, bên trong có gắn 01 (một) thẻ sim số: 0982797933;
    • + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH màu xanh đen, mang BKS: 73G1-214.36, số khung: RLHJF7304GY036454, số máy: JF73E0036629, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong;
  • - Ngày 05/10/2024, trong quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở và giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lê Hồng M, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã thu giữ:
    • + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER 135 màu xanh trắng, BKS: 73G1-077.84, số máy 55P1-234851, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong;
    • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A78 5G màu đen, kiểu máy: CPH 2493, điện thoại đã qua sử dụng, bên trong có gắn 01 (một) thẻ sim số: 0838272984;
    • + Số tiền 90.000 đồng (chín mươi nghìn đồng), tiền Ngân hàng N1 phát hành, bao gồm: 01 (một) tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) và 02 (hai) tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng) (hiện đang được tạm giữ tại tài khoản tiền gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tại Kho bạc nhà nước huyện Q);

* Về xử lý vật chứng:

Ngày 10/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH màu xanh đen,

4

mang BKS: 73G1-214.36, số khung: RLHJF7304GY036454, số máy: JF73E0036629, cho chủ sở hữu là chị Hoàng Thị Lệ Q (sinh năm 1995, ở thôn D, G, Quảng Ninh, Quảng Bình).

Tại bản Cáo trạng số: 06/CT-VKS ngày 14 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Hoàng Ngọc T ra trước Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và Lê Hồng M về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đã phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng; Giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo Lê Hồng M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Đối với bị cáo Hoàng Ngọc T, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm t, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo T từ 12 đến 18 tháng tù.

Đối với bị cáo Lê Hồng M, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo M từ 30 đến 36 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:

  • - Tịch thu, tiêu hủy đối với 1,207g (Một phẩy hai trăm linh bảy gam) ma túy loại methamphetamine còn lại sau giám định là chất cấm nên cần tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại này và vỏ bao gói (đã được niêm phong);
  • - Trả lại cho bị cáo Hoàng Ngọc T: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO FI1 Pro, màu đen, số IMEI 1: 863980046260377, số IMEI 2: 863980046260369, điện thoại đã qua sử dụng, bên trong có gắn 01 (một) thẻ sim số: 0982797933;
  • - Tịch thu, sung vào Ngân sách nhà nước:
    • + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER 135 màu xanh trắng, BKS: 73G1-077.84, số máy 55P1-234851, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã thu giữ vào ngày 05/10/2024 của bị cáo Lê Hồng M;
    • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A78 5G màu đen, kiểu máy: CPH 2493, điện thoại đã qua sử dụng, bên trong có gắn 01 (một) thẻ sim số: 0838272984 của bị cáo Lê Hồng M;
    • + Số tiền 90.000 đồng (chín mươi nghìn đồng) là số tiền M thu lợi bất chính đã bị tạm giữ;

Đề nghị tuyên buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ông Phan Trọng H - Trợ Giúp viên pháp lý, bào chữa cho bị cáo T trình

5

bày: Nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh về hình phạt. Đề nghị HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ mà Đại diện Viện kiểm sát đã nêu để cho bị cáo T mức án thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề xuất.

Tại phiên tòa, bị cáo T, M thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng và Bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, Cơ quan Điều tra, cơ quan Truy tố đã thực hiện đúng chức năng, thẩm quyền, ban hành các quyết định tố tụng theo đúng trình tự pháp luật quy định.

Tại phiên tòa vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhưng trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của họ, được Cơ quan Điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Sự vắng mặt của những người này không gây ảnh hưởng đến việc xác định tội danh và quyết định hình phạt đối với bị cáo. Căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2]. Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá hành vi của bị cáo bị truy tố:

Tại phiên toà bị cáo Hoàng Ngọc T khai nhận hành vi của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, cụ thể: Khoảng 16 giờ 00 phút ngáy 04/10/2024, T có nhu cầu sử dụng ma túy loại Hồng phiến đã chủ động dùng điện thoại của mình qua ứng dụng Mesenger gọi Lê Hồng M, sinh năm 1994 để hỏi mua ma túy, M đồng ý và hẹn T lên nhà M tại thôn P, xã G, huyện Q để lấy ma túy. T đã điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH màu xanh đen, mang BKS: 73G1-214.36 đến nhà Mỹ, tại đây M đã giao cho T 01 vỏ bao thuốc lá bên trong có chứa ma túy mà T hỏi mua từ trước và T đưa số tiền 540.000 đồng cho M. Khi lấy được số ma túy mua từ Mỹ, T cầm trên tay và di chuyển ra khỏi nhà Mỹ, đến ngõ đường sát tường phía Nam Trụ sở UBND xã G thì bị lực lượng Công an xã G bắt quả tang, lập biên bản và thu giữ tang vật.

Lê Hồng M đã khai nhận: Vào khoảng 17 giờ ngày 04/10/2024, Hoàng Ngọc T đã gọi điện qua ứng dụng facebook cho M, hỏi có ma tuý không và nhờ M mua ma tuý dạng hồng phiến, M đồng ý. Đến khoảng hơn 18h00' cùng ngày, T điều khiển xe mô tô đến đoạn đường Q trước nhà Mỹ ở thôn P, xã G gặp và đưa cho M số tiền là 540.000 đồng để mua ma túy, trong đó 500.000 đồng là tiền dùng để mua ma tuý, còn 40.000 đồng là tiền công M đi mua ma tuý. M điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER BKS 73G1-077.84 của Mỹ đi ra đoạn đường tránh lũ gần FLC thuộc địa phận xã H, L, Quảng Bình để mua ma túy. M mua ma tuý chỉ với số tiền 450.000 đồng và giữ lại tiếp 50.000 đồng tiền công đi

6

mua ma tuý. Khi mua được ma túy, M về nhà và giao cho T tại sân nhà. Sau khi nhận ma túy xong thì T đi về còn Mỹ ở nhà. Đến rạng sáng ngày 05/10/2024, bị cơ quan Công an đến yêu cầu về trụ sở làm việc, M thừa nhận vì hám lợi nên khi T nhờ mua đã đồng ý mua dùm để hưởng tiền.

Theo Kết luận số 1096/KL-KTHS ngày 11/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: 13 viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng thu giữ khi bắt quả tang Hoàng Ngọc T là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 1,287g (một phẩy hai trăm tám mươi bảy gam). Các bị cáo không có ý kiến gì về kết luận giám định này.

Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự: 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.

Bị cáo T và M là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Nhận thức được ma túy do Nhà nước độc quyền quản lý, là loại chất gây nghiện gây hại lớn cho sức khỏe con người và trật tự, trị an xã hội, nhưng bị cáo T vẫn cố tình thực hiện hành vi mua, cất giữ với mục đích để sử dụng trái phép, hành vi này cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bị cáo M vì hám lợi nên cố tình mua đi bán lại ma túy để kiếm lời, hành vi này cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình đã truy tố và Bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo là có căn cứ.

[3]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và xem xét áp dụng hình phạt đối với bị cáo:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự, trị an tại địa phương. Tội phạm ma túy ngày càng diễn biến phức tạp, ảnh hưởng xấu tới nguồn lực lao động chính phát triển xã hội; còn là nguy cơ của nhiều tội phạm khác, gây bất bình, hoang mang cho quần chúng nhân dân. Vì tính chất nguy hiểm của loại tội phạm này nên các chế định pháp luật của Nhà nước xử lý hình sự đặc biệt nghiêm khắc. Vì vậy để răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội, đồng thời có hình thức cải tạo, giáo dục riêng đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, trừng trị nghiêm khắc đối với loại tội phạm ma túy.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Hoàng Ngọc T, Lê Hồng M không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T và Mỹ đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Riêng đối với bị cáo T, đã tích cực phối hợp với cơ quan điều tra phát hiện tội phạm mới nên được áp dụng tình tiết tại điểm t, Khoản 1 Điều 51 BLHS, ngoài ra bị cáo T có bố được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang, có mẹ là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, có công trong công cuộc chống Mỹ cứu nước. Bản thân bị cáo T trong đợt dịch

7

Covid-19 và trận lũ, lụt lịch sử năm 2020 đã tham gia giúp đỡ chính quyền, bà con nhân dân phòng, chống và khắc phục, được chính quyền địa phương công nhận, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Đối với đối tượng bán ma túy cho Lê Hồng M, quá trình điều tra căn cứ lời khai của bị cáo M, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được đối tượng này, do đó Hội đồng xét xử chưa có cơ sở để xử lý trong vụ án này.

Đối với Hoàng Thị Lệ Q là chủ chiếc xe Honda SH BKS 73G1-214.36 không biết việc bị cáo T lấy xe đi mua ma túy để sử dụng nên Hội đồng xét xử xem xét TNHS đối với chị Q.

[6] Xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy:

  • - Đối với 1,207g (Một phẩy hai trăm linh bảy gam) ma túy loại methamphetamine còn lại sau giám định là chất cấm nên cần tịch thu và tiêu hủy số ma túy còn lại này và vỏ bao gói (đã được niêm phong);
  • - Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH màu xanh đen, mang BKS: 73G1-214.36, số khung: RLHJF7304GY036454, số máy: JF73E0036629, ngày 10/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là chị Hoàng Thị Lệ Q (sinh năm 1995, ở thôn D, G, Quảng Ninh, Quảng Bình) là có căn cứ, chị Q, anh N không có ý kiến gì thêm nên Hội đồng không xem xét thêm;
  • - Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER 135 màu xanh trắng, BKS: 73G1-077.84, số máy 55P1-234851, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã thu giữ vào ngày 05/10/2024 của bị cáo Lê Hồng M mua lại của ông Đoàn Văn V1, bị cáo khai đã sử dụng chiếc xe này làm phương tiện đi mua ma túy về bán cho T, vì vậy cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
  • - Đối 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO FI1 Pro, màu đen, số IMEI 1: 863980046260377, số IMEI 2: 863980046260369, điện thoại đã qua sử dụng, bên trong có gắn 01 (một) thẻ sim số: 0982797933; Bị cáo T khai điện thoại này là của bị cáo T dùng liên hệ với M để hỏi mua ma túy, tuy nhiên T mua ma túy với mục đích sử dụng, điện thoại này không phải là phương tiện, công cụ phạm tội đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy, vì vậy trả lại cho bị cáo T.
  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A78 5G màu đen, kiêu máy: CPH 2493, điện thoại đã qua sử dụng, bên trong có gắn 01 (một) thẻ sim số: 0838272984; của bị cáo Lê Hồng M dùng làm phương tiện liên lạc để mua, bán ma túy nên cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước.
  • - Đối với số tiền 90.000 đồng (chín mươi nghìn đồng), tiền Ngân hàng N1 phát hành, (hiện đang được tạm giữ tại tài khoản tiền gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tại Kho bạc nhà nước huyện Q), là số tiền bị cáo M thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội nên cần tịch thu vào Ngân sách nhà nước.

8

[7] Án phí sơ thẩm: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm t, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với Hoàng Ngọc T;

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với Lê Hồng M;

Tuyên xử:

  1. Về tội danh và hình phạt:

    Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 05/10/2024.

    Tuyên bố bị cáo Lê Hồng M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Xử phạt bị cáo Lê Hồng M 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 05/10/2024.

  2. Xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu, tiêu hủy đối với 1,207g (Một phẩy hai trăm linh bảy gam) ma túy loại methamphetamine còn lại sau giám định là chất cấm nên cần tịch thu và tiêu hủy số ma túy còn lại này và vỏ bao gói (đã được niêm phong) và 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Sài Gòn màu bạc; theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/01/2025 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
    • - Trả lại cho bị cáo Hoàng Ngọc T: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO FI1 Pro, màu đen, số IMEI 1: 863980046260377, số IMEI 2: 863980046260369, điện thoại đã qua sử dụng, bên trong có gắn 01 (một) thẻ sim số: 0982797933, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/01/2025 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
    • - Tịch thu, sung vào Ngân sách nhà nước, cụ thể như sau:
      • + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER 135 màu xanh trắng, BKS: 73G1-077.84, số máy 55P1-234851, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong, của bị cáo Lê Hồng M, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày

9

15/01/2025 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình;

  • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A78 5G màu đen, kiểu máy: CPH 2493, điện thoại đã qua sử dụng, bên trong có gắn 01 (một) thẻ sim số: 0838272984, của bị cáo Lê Hồng M, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/01/2025 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình;
  • + Số tiền 90.000 đồng (chín mươi nghìn đồng), theo Biên lai thu tiền số 0003962 ngày 15/01/2025 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
  1. Án phí Hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Hoàng Ngọc T, Lê Hồng M, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
  2. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Bình;
  • - Cơ quan điều tra CA huyện Quảng Ninh;
  • - Cơ quan THAHS huyện Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Quảng Ninh;
  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - Bị cáo, NCQLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Trần Thị Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma tuý và mua bán trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 07/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma tuý và Mua bán trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Hồng Mỹ bị truy tố về tội mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger