Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HS-ST

Ngày 19 tháng 2 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Minh Huệ

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hợi

2. Ông Nguyễn Hồng Thăng

Thư ký phiên toà: Bà Lô Thị Lệ Hoài – Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Bình, Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Trần Anh Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 10/2025/HSST ngày 23/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST - HS ngày 06/02/2025 đối với các bị cáo:

Họ tên: NGUYỄN LÊ T, sinh năm 2003, tại tỉnh Thái Nguyên; Nơi thường trú: Thôn T, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên bố: Nguyễn Lê T1, (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T2, (đã chết); Vợ, con: Chưa có.

- Tiền án: 02 tiền án.

  • + Tại Bản án số 144/2022/HSST ngày 30/6/2022, Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, Bắc Ninh xử phạt 16 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 15/6/2023 chấp hành xong hình phạt tù.
  • + Tại Bản án số 52/2024/HSST ngày 11/06/2024, Tòa án nhân dân huyện thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b, khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (trị giá tài sản trộm cắp là 181.000 đồng). Ngày 03/10/2024 chấp hành xong hình phạt tù.

- Tiền sự: không

- Nhân thân: Tại bản án số 201/2019/HS-ST ngày 27/12/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 ĐIều 173 BLHS.

1

Ngày 25/12/2024, Cơ quan điều tra công an thành phố B, tỉnh Bắc Giang ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Ra quyết định khởi tố bị can số 536/QD- ĐCSHS đối với Nguyễn Lê T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ Luật hình sự.

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 22/11/20 24 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

Họ và tên: Tạ Thanh T3, sinh ngày 24/7/2006, tại tỉnh Thái Nguyên; Nơi thường trú: xóm G, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên bố: Tạ Văn X, sinh năm 1980; Họ tên mẹ: Trương Thị V, sinh năm 1982; Vợ, con: Chưa có

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 22/11/2024 đến ngày 10/01/2025 được thay thế và áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh, hiện đang cư trú tại xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

( Các bị cáo có mặt tại phiên tòa).

  • * Người bào chữa cho bị cáo T: Bà Nguyễn Ngọc Q – trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T. (có mặt)
  • * Bị hại: Chị Trịnh Thị Hồng N, sinh năm 2003 (có mặt)
    Trú tại: Xóm Đ, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
  • Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn T4, sinh năm 1994
    Trú tại: xóm L, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
  • (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • * Người làm chứng:
  • Bà Trương Thị V, sinh năm 1982 (có mặt)
    Trú tại: Xóm G, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
  • Anh: Nguyễn Đình S, sinh năm 2000 (vắng mặt)
    Trú tại: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  • Anh Đinh Văn T5, sinh năm 1976 (vắng mặt)
    Địa chỉ: TDP Y, P.Hồ N, TP P, tỉnh Thái Nguyên.
    Chỗ ở hiện nay: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
  • Anh Nguyễn Đình B, sinh năm 2008 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  • Ông Dương Văn Đ, sinh năm 1973 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

2

Ngày 18/11/2024, Nguyễn Lê T đi từ khu công nghiệp B đến khu công nghiệp Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. T vào 01 quán Game cạnh cổng khu công nghiệp chơi và làm quen với Tạ Thanh T3. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 19/11/2024, T đến phòng trọ số 2 dãy trọ 4 do T3 thuê của gia đình ông Đinh Văn T5, tại đây T rủ và bàn với T3 đi trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu xài cá nhân, T3 đồng ý. Sau đó, T bảo T3 ra ngoài quan sát xem có người qua lại không, T3 thấy các phòng trọ đều đóng cửa không có ai, T3 và T đi lên tầng hai dãy trọ quan sát xem có người hay không và xem có tài sản nào sơ hở không để trộm thì thấy phía cuối dãy trọ có ba chiếc xe mô tô. T bảo T3 lấy được con xe nào thì lấy rồi T đi xuống cầu thang tầng một của dãy nhà trọ phía sau để cảnh giới. T3 đi đến vị trí để chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu sơn đen xám, BKS: 20E1-140.59 của chị Trịnh Thị Hồng N mượn của anh Trần Văn T4 để ở trong cùng dãy trọ kiểm tra thì phát hiện chiếc xe này không khóa cổ, thấy không có người qua lại nên T3 đã dắt ra khu vực phía sau dãy trọ. Lúc này, T đứng ở chân cầu thang, thấy T3 dắt xe đến thì T đi vào phòng trọ của T3, khi T3 dắt xe đến cửa phòng trọ số 4 còn trống đối diện phòng của T3, T3 vẫy tay ra hiệu cho T ra dắt xe vào cùng T3, T đi ra cầm lái, T3 đẩy cho chiếc xe mô tô trên vào. Tiếp đó, T và T3 đi về phòng trọ số 2 của T3, T3 lấy 01 chiếc tô vít trong gầm giường của T đưa cho T rồi T quay lại phòng số 4 để phá khóa chiếc xe mô tô trên, còn T3 ra phía cuối dãy trọ nơi có mô đất để cảnh giới, được khoảng 10 phút thì T ra đưa cho T3 chiếc tô vít trên ở trước cửa phòng của T3, T3 vào cất tô vít ở giường và đi ra quán nước đối diện xóm trọ để uống nước, T một mình ở lại tiếp tục phá khóa. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì phá khóa xong. Khoảng 17 giờ T điều khiển chiếc xe mô tô vừa trộm cắp được nêu trên đến cửa hàng sửa chữa xe mô tô của Nguyễn Đình S bán với giá 1.300.000 đồng, sau đó T bắt taxi đến quảng trường thành phố B tiêu hết 250.000 đồng, số tiền còn lại T đã mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân hết.

Quá trình rà soát hiện trường trích xuất dữ liệu camera thu được 04 tệp tin, trong đó 03 tệp tin niêm phong (ký hiệu V) và 01 tệp tin niêm phong (ký hiệu VI). Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành kiểm tra dữ liệu điện tử, kết quả: Kiểm tra dữ liệu được niêm phong (ký hiệu V) phát hiện 01 nam thanh niên nhuộm tóc màu đỏ hồng, quần áo tối màu, quần màu đen có sọc kẻ trắng là Nguyễn Lê T đang điều khiển xe mô tô đã bị tháo phần yếm xe, mặt nạ và phần giá để hàng phía trước đi theo hướng tỉnh lộ từ khu công nghiệp Đ đến đường T, niêm phong (ký hiệu KTD1). Kiểm tra dữ liệu được niêm phong (ký hiệu VI), phát hiện hình ảnh 01 nam thanh niên nhuộm tóc màu đỏ hồng, mặc quần áo tối màu, áo và quần màu đen kẻ sọc màu trắng, chân đi dép là Nguyễn Lê T đang điều khiển 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave S, màu đen xám, BKS: 20E1-14059 (đã tháo phần yếm xe, mặt nạ và giá để hàng phía trước) đi qua dãy phòng trọ nhà ông Dương Văn Đ, sinh năm 1973, HKTT: xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, đi đến huyện L, tỉnh Bắc Giang để tiêu thụ, niêm phong (ký hiệu KTD2).

Ngày 26/11/2024, tại Cơ quan CSĐT Công an huyện P bà Trương Thị V là mẹ ruột của Tạ Thanh T3, biết được con trai phạm tội trộm cắp tài sản đã tự

3

nguyện tìm kiếm chuộc lại và giao nộp chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave S, màu đen xám, BKS: 20E1-140.59 cho cơ quan điều tra.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 85/KL- HĐĐGTS ngày 22/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P, kết luận giá trị của chiếc xe mô tô BKS: 20E1-140.59 là: 3.390.000 đồng.

Quá trình điều tra Nguyễn Lê T và Tạ Thanh T3 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị các bị cáo là phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu, chứng cử đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng vụ án gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu sơn đen xám, BKS: 20E1-140.59, số khung: RLHJC5264DY055262, số máy: JC52E-1178749. Tình trạng xe cũ, đã qua sử dụng, phần yếm xe và phần mặt nạ phía trước đã bị tháo, xe không có gương chiếu hậu cả hai bên; 01 hộp catton được niêm phong (ký hiệu LK) bên trong có chứa: ổ khóa, linh kiện ổ khóa và móc treo; 01 hộp catton được niêm phong (ký hiệu GD) bên trong chứa: 01 giá để đồ xe máy; 01 hộp catton được niêm phong (ký hiệu TV) bên trong có chứa: 01 Tua vít kích thước dài 21 cm, cán bằng gỗ dài 10 cm, phần mũi bằng kim loại, 04 cạnh; 03 tệp tin niêm phong (ký hiệu KTD1) và 01 tệp tin niêm phong (ký hiệu KTD2); 03 tệp tin niêm phong (ký hiệu KTD1) và 01 tệp tin niêm phong (ký hiệu KTD2)

Về trách nhiệm dân sự: Chị Trịnh Thị Hồng N, anh Trần Văn T4, anh Nguyễn Đình S không yêu cầu bồi thường dân sự, anh Trần Văn T4 đề nghị được nhận lại xe mô tô trên.

Bản cáo trạng số 14/CT- VKSPB, ngày 22/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo Nguyễn Lê T và Tạ Thanh T3 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Lê T, Tạ Thanh T3 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt chính:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Lê T từ 24 đến 30 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s,b,i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Tạ Thanh T3 từ 12 đến 18 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS.

Trả lại cho anh T4: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu đen xám, BKS: 20E1-140.59, số khung: RLHCJC5264DY055262, số máy: JC52E-1178749

4

đã qua sử dụng; 01 hộp catton bên trong có chứa ổ khóa, linh kiện ổ khóa và móc treo được niêm phong (ký hiệu LK); 01 hộp catton bên trong chứa một giá để đồ xe máy được niêm phong (ký hiệu GD);

Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp catton bên trong có chứa 01 Tua vít kích thước dài 21 cm, cán bằng gỗ dài 10 cm, phần mũi bằng kim loại, 04 cạnh được niêm phong (ký hiệu TV);

Về trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong.

Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo T, bị cáo T3 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm xung quỹ Nhà nước.

Thông báo cho các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Người bào chữa cho bị cáo T nhất trí với đề nghị của đại diện VKS về tội danh, hình phạt bổ sung, điều luật áp dụng, biện pháp cải tạo, xử lý vật chứng, tuy nhiên khi lượng hình đối với bị cáo T đề nghị HĐXX quan tâm đến tính chất của vụ án, hoàn cảnh gia đình của bị cáo T, bố mẹ mất sớm ở với ông bà ngoại già yếu, không được sự quan tâm, giáo dục đầy đủ của gia đình, vì vậy đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt 18 tháng tù. Và tại phiên tòa bị cáo có đơn xin miễn án phí đề nghị HĐXX miễn án phí cho bị cáo.

Bị hại không có ý kiến tranh luận gì, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T3, không xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T.

Đại diện viện kiểm sát giữ nguyên mức đề nghị về hình phạt chính đối với các bị cáo. Bị cáo T đã có đơn xin miễn án phí vì vậy đề nghị HĐXX miễn án phí cho bị cáo T (hộ cận nghèo).

Nói lời sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan điều tra Công an huyện P, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về căn cứ kết tội đối với các bị cáo: Tại phiên tòa, lời khai nhận tội của các bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, lời khai của các bị cáo phù hợp với chính lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai

5

của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản xác định hiện trường, kết luận định giá tài sản, các biên bản làm việc về việc trích xuất camera và các vật chứng khác có trong hồ sơ của vụ án, do đó có đủ căn cứ để khẳng định: Khoảng 10 giờ 05 phút ngày 19/11/2024 tại khu vực dãy trọ nhà ông Đình Văn T6 thuộc xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Lê T và Tạ Thanh T3 đã có hành vi trộm cắp tài sản là 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu đen xám, BKS: 20E1-140.59 của chị Trịnh Thị Hồng N mượn của anh Trần Văn T4 có trị giá 3.390.000 đồng. Sau đó, T một mình đi bán chiếc xe cho anh Nguyễn Đình S, thôn T, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang được số tiền 1.300.000 đồng, T tiêu sài cá nhân và mua ma tuý sử dụng hết. Hành vi trên của bị cáo T và bị cáo T3 đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.

Nội dung khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng .... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, tuy nhiên hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự trị an tại địa phương nên hành vi này phải xét xử nghiêm bằng pháp luật hình sự.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: Trong vụ án này, bị cáo T là khởi xướng, chủ mưu. Bị cáo T3 đồng phạm với vai trò là người trực tiếp thực hiện tội phạm. Do đó cần áp dụng Điều 58 BLHS để có mức án phù hợp với hành vi của từng bị cáo.

[4]. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo thấy:

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo T: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có 01 tiền án vì vậy phải chịu thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 BLHS. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án xử 3 bản án đều về loại tội xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm cho bản thân lại tiếp tục phạm tội đối với loại tội phạm này. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc mức hình phạt phù hợp với tích chất và mức độ phạm tội của bị cáo để có mức hình phạt nghiêm minh đối với bị cáo.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo T3: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường

6

hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì vậy bị cáo T3 được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51BLHS, bị cáo T3 không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội lẽ ra cần có hình phạt bổ sung, tuy nhiên các bị cáo đều là người không có công ăn việc làm không có tài sản, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Chị N, anh T4 không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Bà Trương Thị V không yêu cầu T và T3 trả lại số tiền mà bà đã chuộc xe và tiền bồi thường sửa chữa xe cho anh T4 vì vậy HĐXX không đặt ra vấn đề giải quyết.

[7]. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46; 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS.

Đối với: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu sơn đen xám, BKS: 20E1-140.59, số khung: RLHJC5264DY055262, số máy: JC52E-1178749. Tình trạng xe cũ, đã qua sử dụng, phần yếm xe và phần mặt nạ phía trước đã bị tháo, xe không có gương chiếu hậu cả hai bên; 01 hộp catton được niêm phong (ký hiệu LK) bên trong có chứa: ổ khóa, linh kiện ổ khóa và móc treo; 01 hộp catton được niêm phong (ký hiệu GD) bên trong chứa: 01 giá để đồ xe máy. Chị N đề nghị xin trả lại cho anh T4, xét thấy anh T4 là chủ sở hữu hợp pháp vì vậy trả lại cho anh T4.

Đối với: 01 hộp catton bên trong có chứa 01 Tua vít kích thước dài 21 cm, cán bằng gỗ dài 10 cm, phần mũi bằng kim loại, 04 cạnh được niêm phong (ký hiệu TV) là vật chứng không có giá trị vì vậy cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 03 tệp tin niêm phong (ký hiệu KTD1) và 01 tệp tin niêm phong ((ký hiệu KTD2) được đính kèm theo hồ sơ vụ án.

[8]. Những vấn đề khác trong vụ án: Trong vụ án này, Nguyễn Đình S là người mua xe mô tô do T, T3 trộm cắp mà có nhưng S không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên không phạm tội, Cơ quan điều tra không xử lý là đúng pháp luật.

[9]. Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt bổ sung, biện pháp cải tạo là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận. Đối với đề nghị mức hình phạt chính HĐXX thấy: Căn cứ vàotính chất vụ án, vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của các bị cáo thì mức đề nghị áp dụng hình phạt chính có phần nghiêm khắc. Và chấp nhận với mức hình đề nghị về hình phạt chính của người bào chữa đối với bị cáo T.

[10]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Tạ Thanh T3 phải chịu án phí HSST sung quỹ Nhà nước, Nguyễn Lê T được miễn án phí HSST (hộ cận nghèo, có đơn xin miễn) theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

7

quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[11]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ, áp dụng pháp luật:

  • - Khoản 1, Điều 173, điểm s khoản 1Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Lê T
  • - Khoản 1, Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Tạ Thanh T3.
  • - Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự;
  • - Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Lê T, Tạ Thanh T3 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt chính:
    • - Xử phạt Nguyễn Lê T 18 (Mười tám) tháng tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 22/11/2024.
    • Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án;
    • - Xử phạt Tạ Thanh T3 9 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành bản án được trừ vào thời gian bị bắt tạm giam từ ngày 22/11/2024 đến ngày 10/01/2025.
  3. Phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  4. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
  5. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
    • Trả lại cho anh T4: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu sơn đen xám, BKS: 20E1-140.59, số khung: RLHJC5264DY055262, số máy: JC52E-1178749. Tình trạng xe cũ, đã qua sử dụng, phần yếm xe và phần mặt nạ phía trước đã bị tháo, xe không có gương chiếu hậu cả hai bên; 01 hộp catton được niêm phong (ký hiệu LK) bên trong có chứa: ổ khóa, linh kiện ổ khóa và móc treo; 01 hộp catton được niêm phong (ký hiệu GD) bên trong chứa: 01 giá để đồ xe máy;
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp catton được niêm phong (ký hiệu TV) bên trong có chứa: 01 Tua vít kích thước dài 21 cm, cán bằng gỗ dài 10 cm, phần mũi bằng kim loại, 04 cạnh.

8

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/02/2025 giữa Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên).

  • - Kèm theo hồ sơ vụ án 03 tệp tin niêm phong (ký hiệu KTD1) và 01 tệp tin niêm phong ((ký hiệu KTD2).
  1. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Tạ Thanh T3 phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước. Bị cáo Nguyễn Lê T được miễn án phí HSST.
  2. Thông báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo (Nguyễn Lê T, Tạ Thanh T3), bị hại (Chị Trịnh Thị Hồng N) có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (anh Trần Văn T4) vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKS ND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKS ND huyện Phú Bình;
  • - Cơ quan điều tra CA huyện Phú Bình;
  • - CQTHAHS Công an huyện Phú Bình;
  • - CC T.H.A DS huyện Phú Bình;
  • - Trại tạm giam tỉnh Thái Nguyên;
  • - CQ điều tra CA thành phố Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên.
  • - Bị cáo; bị hại, NCQLNVLQ;
  • - Lưu: HS, VP, T.H.A HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Thị Minh Huệ

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 07/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger