Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG PHÚ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HS-STNgày 19/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bảo Quốc

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Trà Minh Châu
  • Ông Nguyễn Thanh Rực

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Trân-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Tuấn-Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Dương Thanh Q, sinh ngày 04/6/1999; Nơi sinh: tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp P, xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; Con ông Dương Thanh T và bà Trần Thị Q1; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 lần, vào ngày 16/7/2024, bị Trưởng Công an xã S, huyện L xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại Quyết định số 13/QĐ-XPHC, bị cáo chưa nộp phạt và đến lần phạm tội này chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; Về nhân thân: Vào ngày 28/01/2021, bị Chủ tịch UBND xã S, huyện L áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn là 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại Quyết định số 17/QĐ-UBND, ngày 25/4/2021 chấp hành xong quyết định và đến lần phạm tội này được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23 tháng 10 năm 2024 cho đến nay. (có mặt)

- Bị hại: Ông Lâm Trúc P, sinh năm 1992; Nơi cư trú: ấp P, xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ ngày 16/8/2024, Q đi bộ đến nhà của ông P để hỏi mượn xe thì ông P đồng ý và giao xe mô tô biển kiểm soát số 70E1-041.42 cho Q. Sau khi Q chạy xe đi thì ông P ở nhà chờ Q chạy xe về trả nhưng không thấy nên P đi bộ lại nhà Q để tìm Q nhưng không gặp nên P đi về. Đến khoảng 01 giờ ngày 17/8/2024, ông P khép cửa hàng rào và để ví đựng tiền trên kệ chén ở khu vực nhà bếp rồi đi vào phòng ngủ.

Đến khoảng 03 giờ 30 ngày 17/8/2024, Q chạy xe về trả cho ông P. Q thấy cửa hàng rào không khóa, chỉ gài chốt, cửa nhà chính còn đang mở nên Q mở cửa rào rồi dẫn xe vào trong. Q để xe ngoài hành lang rồi đi vào trong nhà để đi vệ sinh. Khi đi ngang kệ chén ở khu vực nhà bếp, Q thấy 01 cái ví tiền, màu kem nên nảy sinh ý định lấy trộm. Sau khi đi vệ sinh xong, Q quay trở ra và lấy trộm ví tiền rồi đi về nhà. Sau đó, Q kiểm tra bên trong ví phát hiện tài sản lấy được gồm: tiền Việt Nam là 1.900.000 đồng, gồm nhiều loại tờ tiền có mệnh giá khác như: 20 Baht; 02 USD, 12 Ringgit; 100 nhân dân tệ; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, 01 thẻ Ngân hàng B, 01 thẻ Ngân hàng V và 01 căn cước công dân.

Vào khoảng 07 giờ ngày 17/8/2024, ông P phát hiện ví tiền bị mất và xem lại camera thì phát hiện Q là người lấy trộm tài sản của ông nên liên hệ với Q thì Q thừa nhận đã lấy trộm nên ông P đến Công an xã S trình báo sự việc. Quá trình làm việc, Dương Thanh Q thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại Kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐG ngày 26/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 tờ tiền Thái Lan mệnh giá 20 Baht, có giá trị là 15.073 đồng; 01 tờ tiền đô la Mỹ mệnh giá 02 USD, có giá trị là 50.160 đồng; 01 tờ tiền Malaysia mệnh giá 10 R, có giá trị là 59.627 đồng; 01 tờ tiền Malaysia mệnh giá 01 Ringgit, có giá trị là 5.963 đồng; 01 tờ tiền Malaysia mệnh giá 01 Ringgit, có giá trị là 5.963 đồng; 01 tờ tiền Trung Quốc mệnh giá 100 nhân dân tệ, có giá trị là 355.947 đồng. Tổng giá trị tài sản là 492.733 đồng.

Tại Cáo trạng số 02/CT-VKS-LP ngày 07/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú đã truy tố bị cáo Dương Thanh Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015. (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Dương Thanh Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2

Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại được một phần tài sản và đã được bồi thường xong, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập xử lý.

Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng tội. Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, bị hại là ông Lâm Trúc P vắng mặt. Xét thấy, ông P đã có lời khai rõ ràng về các tình tiết của vụ án và việc vắng mặt cũng không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ vào Điều 292, Điều 299 của Bộ luật Tố tụng Hình sự để xét xử vắng mặt đối với bị hại.

[3]. Xét lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Vào khoảng 03 giờ 30 phút ngày 17/8/2024, bị cáo vào nhà của bị hại P tại ấp P, xã S, huyện L để trả lại xe mô tô cho P do bị cáo đã mượn trước đó. Sau khi vào nhà của P đi vệ sinh xong, thì bị cáo phát hiện trên kệ chén ở nhà bếp có 01 ví tiền bên trong gồm 1.900.000 đồng, các tờ tiền ngoại hối, thẻ Ngân hàng và các giấy tờ tùy thân khác nên đã lén lút chiếm đoạt rồi đi về. Qua định giá thì các tờ tiền ngoại tệ có tổng giá trị là 492.733 đồng. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt qua định giá là 2.392.733 đồng.

Hành vi của bị cáo là gây nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại một cách trái pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Dương Thanh Q phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015. (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Từ hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra, cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo thì mới phù hợp và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

3

[4]. Tuy nhiên, khi lượng hình và quyết định mức hình phạt, cần xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng,

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Nhưng bị cáo có nhân thân xấu như đã nêu trong phần lý lịch. Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tài sản đã kịp thời thu hồi được một phần trả cho bị hại nên phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại được một phần tài sản và đã được bồi thường xong, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6]. Về án phí: Do bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.

[7]. Xét lời đề nghị Kiểm sát viên về tội danh và việc áp dụng pháp luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Về hình phạt cần có mức khởi điểm như Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Dương Thanh Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Xử phạt bị cáo Dương Thanh Q 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23 tháng 10 năm 2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Lâm Trúc P đã nhận lại được một phần tài sản và đã được bồi thường xong, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

3. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải chịu là 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được cấp, tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

4

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Long Phú;
  • - Công an huyện Long Phú (HSNV);
  • - CQTHAHS-CA huyện Long Phú;
  • - Chi cục THADS huyện L;
  • - UBND xã S, huyện L;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Bảo Quốc

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 07/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Dương Thanh Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger