Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HS-ST

Ngày: 18-02-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Linh Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đích – Cán bộ hưu trí

Bà Vũ Thị Lê Thủy – Cán bộ hưu trí

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mỹ Thương - Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Tuấn Thanh Tứ - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án Nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 11/2025/HSST ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ tên: Lê Công T. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 03 tháng 03 năm 1990 tại thành phố Đà Nẵng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 10/12. Nghề nghiệp: Không. HKTT: Tổ A, phường N, quận S, TP .. Nơi ở hiện tại: tổ B, khối phố C, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Ngày 15/8/2017, bị Tòa án nhân dân quận Sơn Trà ra Quyết định số 96 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 12 tháng kể từ ngày 18/7/2017.
  • Ngày 28/02/2019, bị Tòa án nhân dân quận Sơn Trà ra Quyết định số 14 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 12 tháng kể từ ngày 19/12/2018.

Con ông: Lê Văn D (SN: 1967) và bà Huỳnh Thị N (SN: 1973; cùng trú tại: tổ B, khối phố C, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam).

Gia đình có hai anh em, bị can là con đầu.

Bị cáo bị tạm giam ngày 17/10/2024. Có mặt.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1973 Nơi cư trú: Tổ B, khối phố C, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt

Người chứng kiến: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1964. Nơi cư trú: Tổ C, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 13 giờ 15 phút ngày 17/10/2024, Đội CSĐTTP về ma túy Công an quận S phối hợp cùng Công an phường A, quận S, TP.Đà Nẵng tuần tra trên tuyến đường L - A, phường A, quận S, TP . phát hiện Lê Công T đang dừng xe mô tô hiệu Yamaha Classico màu vàng, mang BKS 43S8-6260 trên vỉa hè có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, T khai bản thân có sử dụng ma túy đá vào ngày 16/10/2024 tại nhà của mình ở Đ, Quảng Nam nên lực lượng công an đưa Lê Công T và phương tiện về trụ sở Công an phường A để xét nghiệm ma túy.

Đến khoảng 13 giờ 40 phút cùng ngày, tại sân để xe Công an phường A, tiến hành kiểm tra trên người của T phát hiện bên trong lai ao khoác phía dưới bên phải T đang mặc có 02 gói nilong bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng. T khai nhận là ma túy đá của T mua trên Telegram của một đối tượng tên "Zũ" về bán lại kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện. Lực lượng công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ tang vật.

* Tang vật tạm giữ:

  • 01 gói ni lông, kích thước khoảng (3,5x4)cm chứa chất tinh thể rắn màu trắng; 01 gói ni lông, kích thước khoảng (02x02)cm chứa chất tinh thể rắn màu trắng. Tất cả được bỏ trong bì niêm phong ký hiệu "TH";
  • 01 áo vải caro;
  • 01 căn cước công dân mang tên Lê Công T;
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu bạc, số Imeil: 354954073690083, sim số: 0896.463.407;
  • 01 xe mô tô hiệu Yamaha Classico màu vàng mang BKS 43S8-6260, số khung: RLCM4D1107Y012309, số máy: 4D11012309.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Công T tại tổ B, khối phố C, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam vào lúc 17 giờ ngày 17/10/2024 phát hiện, thu giữ:

  • 09 vỏ bao nilong kích thước (04x07)cm bên trong không chứa gì;
  • 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm nỏ thủy tinh, ống hút nhựa và bình thủy tinh;
  • 02 ống nhựa được cắt chéo một đầu;
  • 01 gói nilong kích thước (03x02)cm bên trong chứa chất bột màu trắng; ký hiệu niêm phong "TH1"

Xét nghiệm chất ma tuý đối với T ngày 17/10/2024 cho kết quả: T dương tính với ma tuý.

Kiểm tra điện thoại của T không phát hiện nội dung gì liên quan đến mua bán trái phép chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số 879/KL-KTHS ngày 25/10/2024 của Phòng K Công an thành phố Đ xác định:

  • Tinh thể rắn màu trắng trong mẫu ký hiệu TH gửi giám định là ma túy, loại Methaphetamine; khối lượng mẫu TH: 1,103 gam.
  • Tinh thể rắn màu trắng trong mẫu ký hiệu TH1 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine; khối lượng mẫu TH: 0,116 gam.

Căn cứ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định: 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều luật BLHS 2015 thì tổng tỉ lệ phần trăm được tính là: 1,103/5x100+ 0,116/20 x100 = 22,06% + 0,58% = 22,64% (dưới 100%).

Qua điều tra xác định: Khoảng giữa tháng 10/2024, Lê Công T nảy sinh ý định mua ma túy về bán lại kiếm lời. Lúc 21 giờ 30 phút ngày 16/10/2024, Lê Công T vào ứng dụng T1 lấy được đường link của một tài khoản tên "Zũ" (chưa rõ nhân thân lai lịch) và liên hệ với người này hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá thì người này đồng ý, hẹn T đến cầu T để thực hiện giao dịch mua bán trái phép chất ma túy. Khi T đến điểm hẹn thì người này đã để sẵn ma túy rồi chỉ T đến lấy. T đến lấy gói ma túy và để số tiền 500.000 đồng vào trong một gói nilong rồi để vào gốc cây ở cầu T và bỏ đi (T không gặp mặt người bán ma túy nên không biết nhận dạng được người này). Sau khi mua được mạ túy, T đã xóa hết mọi thông tin liên hệ và đem ma túy về nhà của mình tại tổ B, khối phố C, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam, lấy một ít ma tuý ra sử dụng một mình (việc T sử dụng ma túy tại nhà không ai biết).

Đến khoảng 13 giờ 15 phút ngày 17/10/2024, T cất giấu 02 gói ma túy trong người (gói lớn T định bán với số tiền 500.000 đồng, gói nhỏ định bán với số tiền 200.000 đồng) và điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Classico màu vàng mang BKS 43S8-6260 đi dến ngã ba đường L - A, phường A, quận S, TP . để tìm một người bạn tên P (bạn bè ngoài xã hội, không rõ nhân thân lai lịch), T biết trước đây P có sử dụng ma túy, nghe nói P ở quận S nên đến tìm P để bán nhưng chưa tìm được thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, tạm giữ T cùng tang vật.

Đối với số ma túy thu giữ được tại nhà của T là của một người bạn ngoài xã hội (không rõ lai lịch) cho T ở một quán nhậu (thuộc khu vực quận L, không nhớ địa chỉ cụ thể) để sử dụng nhưng T chưa có nhu cầu dùng đến nên cũng định đem bán số ma tuy này với số tiền 200.000 đồng nhưng chưa kịp bán cho ai thì bị phát hiện.

Tại bản Cáo trạng số 15/CT - VKS - ST ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo Lê Công T về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Về hình phạt: áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt Lê Công T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
  • Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Công T, Cơ quan CSĐT Công an quận S ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T là có căn cứ.
  • Đối với bà Huỳnh Thị N - mẹ ruột của T: Ngày 17/10/2024, bà N để xe mô tô hiệu Yamaha Classico màu vàng mang BKS 43S8-6260 và chìa khóa ở nhà. Việc T sử dụng xe này để đi mua ma túy bà N không biết. Ngoài ra, việc T sử dụng ma túy tại nhà của bà vào ngày 16/10/2024 bà không biêt, do vậy Cơ quan CSĐT Công an quận S không đề cập xử lý hình sự đối với bà N là có căn cứ.
  • Đối với người tên P: T không biết lai lịch, chỉ quen biết trước đây, biết P sử dụng ma túy nên tìm P để bán ma túy nhưng chưa tìm được nên không có cơ sở xử lý đối với P.
  • Đối với đối tượng tên "Zũ" đã bán ma túy cho T, hiện chưa xác định được lai lịch, T không biết mặt "Zũ" nên Cơ quan CSĐT Công an quận S tiếp tục xác minh, xử lý sau là có căn cứ.

* Xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS đề nghị Hội đồng xét xử :

  • Tịch thu tiêu huỷ: 02 bì niêm phong ký hiệu TH và TH1 theo Quyết định trưng cầu giám định số 1071 ngày 18/10/2024 của Cơ quan CSĐT Công an quận S được niêm phong bởi hình dấu tròn Phòng K Công an thành phố Đ; 01 áo vải caro của T để cất giấu ma túy; sim số: 0896.463.407 của T dùng để liên hệ mua ma tuý; 09 vỏ bao nilong kích thước (04x07)cm bên trong không chứa gì, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm nỏ thủy tinh, ống hút nhựa và bình thuỷ tinh, 02 ống nhựa được cắt chéo một đầu là các dụng cụ sử dụng ma túy và phân chia ma tuý để bán của T.
  • Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu bạc, số I: 354954073690083 dùng để mua bán trái phép chất ma tuý.
  • Trả lại cho bà Huỳnh Thị N: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Classico màu vàng mang BKS 43S8-6260, số khung: RLCM4D1107Y012309, số máy: 4D11012309.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về tội danh : Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Để có tiền tiêu xài cá nhân, vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 17/10/2024 Lê Công T đã có hành vi cất giấu 1,103 gam ma túy loại Methaphetamine và 0,116 gam ma túy loại Ketamine để nhằm mục đích bán lại cho người khác kiếm lời, nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Do đó Cáo trạng số 15/CT-VKS-ST ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Viện kiêm sát nhân dân quận S, thành phố Đà Nẵng đã truy tô các bị cáo vê tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[3] Xét tính chất vụ án là rât nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội, gieo rắc nguy cơ bệnh tật và các tệ nạn xã hội, tạo tâm lý bất an trong dư luận quần chúng nhân dân. Do đó đối với các bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đồng thời góp phần đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.

[3.1] Trong vụ án này, Lê Công T vào ứng dụng Telegram lấy được đường link của một tài khoản tên "Zũ" (chưa rõ nhân thân lai lịch) và liên hệ với người này hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá. Tổng lượng ma túy bị cáo phải chịu trách nhiệm trong vụ án này là 103 gam ma túy loại Methaphetamine và 0,116 gam ma túy loại Ketamine.

Căn cứ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định: 19/2018/NĐ-CP ngày 02/ 2/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều luật BLHS 2015 thì tông tỉ lệ phân trăm được tính là: 1,103/5x100+ 0,116/20 x100 = 22,06% + 0,58% = 22,64% (dưới 100%).

Bản thân bị cáo là người không có nghề nghiệp, sử dụng số tiền có được từ việc bán ma túy làm nguồn sống chính, bị cáo cũng là người nghiện ma túy. Thời điểm bị công an bắt quả tang, kiếm tra ma túy đối với T ngày 17/10/2024 cho kết quả: T dương tính với ma túy. Theo lời khai của T sử dụng ma túy đá một mình tại nhà của mình (tố 02, khối phố C, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam) vào ngày 17/10/2024. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T, Công an quận S ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ. Do đó đối với bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm, cách ly ra ngoài xã hội một thời gian dài để giám sát, giáo dục. Mức án Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Công T có thái độ khai báo thành khẩn, tự nguyện khai báo. Do đó Hội đông xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tương ứng quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự khi lượng hình đối với bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung để phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và vấn đề liên quan trong vụ án:

[6.1] Đối với việc Bà Huỳnh Thị N là chủ sở hữu đối với xe mô tô bị thu giữ trong vụ án này, việc bị cáo mượn xe rồi sử dụng vào việc phạm tội bà Huỳnh Thị N đều không biết về hành vi phạm tội của các bị cáo nên Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát không đề cập trách nhiệm của bà nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6.2] Ngoài hành vi mua bán trái phép chất ma túy các bị cáo Lê Công T còn có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, kết quả thử test bị cáo dương tính với ma túy. Do đó Cơ quan Điều tra đã ra Q xử phạt hành chính là có căn cứ. Bị cáo không có ý kiến, yêu cầu gì, Viện kiểm sát không tiếp tục đề cập nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6.3] Đối với các đối tượng tên Z, có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Lê Công T và P đối tượng T định bán ma túy hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan Điều tra tiếp tục điều tra xử lý sau, phạm vi vụ án này Viện kiểm sát không đề cập nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng:

[7.1] Đối với các vật chứng gồm 01 gói ni lông, kích thước khoảng (3,5x4) cm chứa chất tinh thể rắn màu trắng; 01 gói ni lông, kích thước khoảng (02x02)cm chứa chất tinh thể rắn màu trắng. Tất cả được bỏ trong bì niêm phong ký hiệu "TH" là ma túy Methaphetamine; 1 gói nilong kich thước (03x 2)cm bên trong chứa chất bột màu trắng; ký hiệu niêm phong "TH1" là ma túy loại Ketamine; 09 vỏ bao nilong kích thước (04x07)cm bên trong không chứa gì; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm nỏ thủy tinh, ống hút nhựa và bình thủy tinh; 02 ống nhựa được cắt chéo một đầu là dụng cụ liên quan đến việc cân, phân chia ma túy và bao gói vỏ hoàn trả sau giám định; 1 áo vải caro của T đề cất giấu ma tuý; sim số: 0896.463.407 của T dùng để liên hệ mua ma tuý không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7.2] Đối với vật chứng gồm là 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu bạc, số I: 354954073690083 thu giữ của T là phương tiện bị cáo liên lạc để phục vụ mua bán ma túy nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[7.3] Đối với các vật chứng gồm 01 xe mô tô hiệu Yamaha Classico màu vàng mang BKS 43S8-6260, số khung: RLCM4D1107Y012309, số máy: 4D11012309 cho bà Huỳnh Thị N là phương tiện các bị cáo sử dụng liên quan đến việc phạm tội nhưng chủ sở hữu không biết, nên xét thấy cần trả lại cho chủ sở hữu là bà Huỳnh Thị N.

Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận S theo biên bản giao nhận vật chúng ngày 05/2/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận S và Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng).

[8] Về án phí: Theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án thì bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Công T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

1/ Căn cứ vào: khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Lê Công T 3 (Ba) năm 6 (S) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/10/2024.

2/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu huỷ: 02 bì niêm phong ký hiệu TH và TH1 theo Quyết định trưng cầu giám định số 1071 ngày 18/10/2024 của Cơ quan CSĐT Công an quận S được niêm phong bởi hình dấu tròn Phòng K Công an thành phố Đ; 09 vỏ bao nilong kích thước (04x07)cm bên trong không chứa gì, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túý gồm nỏ thuỷ tinh, ống hút nhựa và bình thủy tinh, 02 ống nhựa được cắt chéo một đầu; 01 áo vải caro; sim số: 0896.463.407.

* Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu bạc, số I: 354954073690083.

* Trả lại cho bà Huỳnh Thị N: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Classico màu vàng mang BKS 43S8-6260, số khung: RLCM4D1107Y012309, số máy: 4D11012309 đúng tên sở hữu là Huỳnh Thị N.

(Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/2/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận S và Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng).

8/ Về án phí: Áp dụng quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Buộc các bị cáo Lê Công T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

9/ Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, báo cho bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Riêng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản sao bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Sơn Trà;
  • - VKSND TP Đà Nẵng;
  • - TAND TP Đà Nẵng;
  • - CQCSĐT CA quận Sơn Trà;
  • - THA dân sự quận Sơn Trà;
  • - Cơ sở tạm giam/ tạm giữ;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Linh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 07/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Công T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger