TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN MỸ TÚ TỈNH SÓC TRĂNG | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2025/DS - ST.
Ngày: 18 - 02 - 2025.
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Duy Tân.
- Ông Lê Hoàng Điệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 213/2024/TLST - DS, ngày 06 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-DS, ngày 02 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S, địa chỉ: Số B -B, N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng Thương mại cổ phần S: Ông Thân Lê N, sinh năm 1978, địa chỉ: Lầu F, số B, đường N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 15/01/2024) (Vắng mặt vì có đơn xin giải quyết vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Huỳnh Hữu T, sinh năm 1996, địa chỉ: Ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện lập ngày 07/3/2024, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S trình bày: Ngày 18/07/2019, ông T có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông T, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 19.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 235.977.567 đồng (Hai trăm ba mươi lăm triệu chín trăm bảy mươi bảy nghìn năm trăm sáu mươi bảy đồng). Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 235.977.567 đồng (Hai trăm ba mươi lăm triệu chín trăm bảy mươi bảy nghìn năm trăm sáu mươi bảy đồng). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau: Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước; Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước; Giao dịch mua hàng hóa của ký trước; Các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ; Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ; Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.
Diễn giải thêm về dư nợ còn thiếu khi bị chuyển quá hạn (Gốc): Tổng số tiền khách hàng thanh toán 222,397,485 đồng sẽ được trừ thanh toán cho các khoản phí, lãi trước, số tiền còn lại sẽ trừ vào số tiền đã giao dịch, cụ thể: trừ vào tổng tiền lãi trong hạn: 8,702,962 đồng & Phí trễ hạn thanh toán: 1,335,265 đồng & Phí vượt hạn mức: 382,503 đồng & Phí khác (phí thường niên, phí rút tiền mặt,...): 1,197,000 đồng, số tiền còn lại sẽ trừ vào số tiền đã giao dịch 235,977,567 đồng, sau khi trừ thì dư nợ còn thiếu khi chuyển quá hạn là -25,197,812 đồng (cụ thể: 222,397,485 đồng - 8,702,962 đồng - 1,335,265 đồng - 382,503 đồng - 1,197,000 đồng - 235,977,567 đồng = - 25,197,812 đồng), chi tiết theo sao kê đính kèm).
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông T vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Trần vi P nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 23/04/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản) và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Tính đến ngày 18/02/2025, ông T còn nợ tổng cộng: 60.051.260 đồng (Sáu mươi triệu không trăm năm mươi mốt nghìn hai trăm sáu mươi đồng). Trong đó, số tiền gốc là 25.197.812 đồng (Hai mươi lăm triệu một trăm chín mươi bảy nghìn tám trăm mười hai đồng) và tiền lãi tạm tính đến ngày 18/02/2025 là 34.853.448 đồng (Ba mươi bốn triệu tám trăm năm mươi ba nghìn bốn trăm bốn mươi tám đồng).
Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu ông T có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên ông T vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.
Nay ngân hàng yêu cầu:
- Buộc ông Huỳnh Hữu T phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 18/02/2025 là 60.051.260 đồng (Sáu mươi triệu không trăm năm mươi mốt nghìn hai trăm sáu mươi đồng). Trong đó, số tiền gốc là 25.197.812 đồng (Hai mươi lăm triệu một trăm chín mươi bảy nghìn tám trăm mười hai đồng) và tiền lãi tạm tính đến ngày 18/02/2025 là 34.853.448 đồng (Ba mươi bốn triệu tám trăm năm mươi ba nghìn bốn trăm bốn mươi tám đồng).
- Ông Huỳnh Hữu T có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 19/02/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
- Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bị đơn ông Huỳnh Hữu T không có ý kiến hay văn bản trả lời cho Tòa án.
- Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Xác định đúng quan hệ tranh chấp. Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định, bị đơn không chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 91, khoản 1 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Điều 26 Luật thi hành án dân sự.
Buộc bị đơn ông Huỳnh Hữu T có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền là 60.051.260 đồng (Sáu mươi triệu không trăm năm mươi mốt nghìn hai trăm sáu mươi đồng). Trong đó, số tiền gốc là 25.197.812 đồng (Hai mươi lăm triệu một trăm chín mươi bảy nghìn tám trăm mười hai đồng) và tiền lãi tạm tính đến ngày 18/02/2025 là 34.853.448 đồng (Ba mươi bốn triệu tám trăm năm mươi ba nghìn bốn trăm bốn mươi tám đồng).
Kể từ ngày 19/02/2025 ông Huỳnh Hữu T còn phải tiếp tục trả lãi quá hạn trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa ông Huỳnh Hữu T với Ngân hàng Thương mại cổ phần S cho đến khi trả hết nợ.
Ngoài ra, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Ông Huỳnh Hữu T mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Huỳnh Hữu T.
[2]. Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn ông Huỳnh Hữu T có nghĩa vụ trả số tiền nợ gốc là 25.197.812 đồng (Hai mươi lăm triệu một trăm chín mươi bảy nghìn tám trăm mười hai đồng), Hội đồng xét xử thấy rằng: Để chứng minh cho việc bị đơn ông Huỳnh Hữu T có vay vốn, Ngân hàng cung cấp cho Tòa án chứng cứ là Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 18/7/2019 có chữ ký của ông Huỳnh Hữu T và các giấy tờ khác có liên quan. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 235.977.567 đồng (Hai trăm ba mươi lăm triệu chín trăm bảy mươi bảy nghìn năm trăm sáu mươi bảy đồng); Tổng số tiền khách hàng thanh toán 222,397,485 đồng sẽ được trừ thanh toán cho các khoản phí, lãi trước, số tiền còn lại sẽ trừ vào số tiền đã giao dịch, cụ thể: trừ vào tổng tiền lãi trong hạn: 8,702,962 đồng & Phí trễ hạn thanh toán: 1,335,265 đồng & Phí vượt hạn mức: 382,503 đồng & Phí khác (phí thường niên, phí rút tiền mặt,...): 1,197,000 đồng, số tiền còn lại sẽ trừ vào số tiền đã giao dịch 235,977,567 đồng, sau khi trừ thì dư nợ còn thiếu khi chuyển quá hạn là -25,197,812 đồng). Xét thấy, về hình thức, nội dung các văn bản này là phù hợp theo quy định của pháp luật nên được thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia có các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký; đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng và thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông Huỳnh Hữu T biết nhưng ông Huỳnh Hữu T không có ý kiến phản đối gì. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Hợp đồng khẳng định ông Huỳnh Hữu T theo thứ tự thanh toán tại Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ông T vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Trần vi P nghĩa vụ thanh toán tại Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên ngày 23/04/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn tại Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng và chuyển sang dư nợ tại thời điểm này thành dư nợ gốc là 25.197.812 đồng (Hai mươi lăm triệu một trăm chín mươi bảy nghìn tám trăm mười hai đồng) là có căn cứ. Do đó, việc ông Huỳnh Hữu T không thực hiện nghĩa vụ trả tiếp dư nợ gốc và lãi theo giao kết trong hợp đồng đã vi phạm hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết, ông Huỳnh Hữu T là người có lỗi, là người vi phạm hợp đồng nên phải chịu mọi hậu quả theo giao kết và theo quy định của pháp luật. Vì vậy, việc nguyên đơn Ngân hàng yêu cầu bị đơn ông Huỳnh Hữu T phải trả cho Ngân hàng số tiền vay gốc còn nợ là 25.197.812 đồng (Hai mươi lăm triệu một trăm chín mươi bảy nghìn tám trăm mười hai đồng) là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3]. Xét yêu cầu tính lãi của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 18/7/2019 giữa Ngân hàng và ông Huỳnh Hữu T đã giao kết mức lãi suất là 2,6%/tháng; Lãi suất nợ gốc quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn từ ngày Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại. Xét thấy, đối với khoản tiền lãi suất theo sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng là 2,6%/tháng, cao hơn so với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng thì Ngân hàng là một trong những hình thức tổ chức tín dụng và được điều chỉnh bởi Luật các tổ chức tín dụng nên giữa Ngân hàng và ông Huỳnh Hữu T thỏa thuận mức lãi suất theo hợp đồng tín dụng là có căn cứ. Do đó, mức lãi suất của hợp đồng các bên đã ký kết là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7, Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên bị đơn phải có nghĩa vụ trả lãi cho nguyên đơn theo hợp đồng đã giao kết. Việc bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả tiếp dư nợ gốc và lãi theo giao kết trong hợp đồng đã vi phạm hợp đồng cho vay mà các bên đã ký kết, bị đơn là người có lỗi và là người vi phạm hợp đồng nên phải chịu mọi hậu quả theo giao kết và theo quy định của pháp luật. Như vậy, ông Huỳnh Hữu T phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền lãi theo giao kết của hợp đồng tạm tính đến ngày 18/02/2025 với số tiền lãi quá hạn là 34.853.448 đồng (Ba mươi bốn triệu tám trăm năm mươi ba nghìn bốn trăm bốn mươi tám đồng) là có căn cứ, phù hợp với nội dung thỏa thuận về việc trả nợ gốc lãi, chuyển nợ quá hạn, tính lãi tiền vay, phí tại hợp đồng tín dụng đã ký kết nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Như vậy, bị đơn ông Huỳnh Hữu T có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn tổng cộng số tiền là 60.051.260 đồng (Sáu mươi triệu không trăm năm mươi mốt nghìn hai trăm sáu mươi đồng). Trong đó, số tiền gốc là 25.197.812 đồng (Hai mươi lăm triệu một trăm chín mươi bảy nghìn tám trăm mười hai đồng) và tiền lãi tạm tính đến ngày 18/02/2025 là 34.853.448 đồng (Ba mươi bốn triệu tám trăm năm mươi ba nghìn bốn trăm bốn mươi tám đồng) và kể từ ngày 19/02/2025, ông Huỳnh Hữu T còn phải tiếp tục trả lãi quá hạn trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng cấp tín dụng đã ký kết giữa ông Huỳnh Hữu T với Ngân hàng cho đến khi trả hết nợ.
[4]. Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị đơn phải chịu 3.002.563 đồng (Ba triệu không trăm lẻ hai nghìn năm trăm sáu mươi ba đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 91, khoản 1 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Điều 26 Luật thi hành án dân sự.
- Buộc bị đơn ông Huỳnh Hữu T có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền là 60.051.260 đồng (Sáu mươi triệu không trăm năm mươi mốt nghìn hai trăm sáu mươi đồng). Trong đó, số tiền gốc là 25.197.812 đồng (Hai mươi lăm triệu một trăm chín mươi bảy nghìn tám trăm mười hai đồng) và tiền lãi tạm tính đến ngày 18/02/2025 là 34.853.448 đồng (Ba mươi bốn triệu tám trăm năm mươi ba nghìn bốn trăm bốn mươi tám đồng).
Kể từ ngày 19/02/2025 ông Huỳnh Hữu T còn phải tiếp tục trả lãi quá hạn trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa ông Huỳnh Hữu T với Ngân hàng Thương mại cổ phần S cho đến khi trả hết nợ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Huỳnh Hữu T phải chịu 3.002.563 đồng (Ba triệu không trăm lẻ hai nghìn năm trăm sáu mươi ba đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí là 1.168.000 đồng (Một triệu một trăm sáu mươi tám nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0032266, ngày 18/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Thanh Hoa |
Bản án số 07/2025/DS - ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 07/2025/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tín dụng
