Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LẠNG SƠN

Bản án số: 07/2025/HS-PT

Ngày 17-02-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thuỳ

Các Thẩm phán: Ông Phùng Đức Chính và ông Lộc Sơn Thái

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Tống Văn Giang, Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 116/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo Lê Kim A; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 139/2024/HS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

- Bị cáo có kháng cáo: Lê Kim A, sinh ngày 26-12-1992 tại thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Đường P, thôn T, xã M, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Quang H (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; có chồng là Phan Đức T và có 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, tại Quyết định số 03497/QĐ-XPVPHC ngày 21-12-2009, bị Công an phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 200.000 đồng về hàng vi gây rối trật tự công cộng. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03-4-2024 đến ngày 07-6-2024 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn; hiện nay tại ngoại; có mặt.

Ngoài ra, còn có 03 bị cáo khác không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ 00 ngày 03-4-2024, Tổ công tác Công an thành phố Lạng Sơn kiểm tra phát hiện bắt quả tang Lê Kim A có hành vi sử dụng điện thoại để tổng hợp số lô đề, đối chiếu kết quả với kết quả mở thưởng của sổ số kiến thiết Miền Bắc. Tiến hành kiểm tra ứng dụng tin nhắn trên điện thoại thấy có nhiều tin nhắn có nội dung liên quan đến việc mua bán số lô số đề. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, thu giữ tang vật đồng thời đưa đối tượng về trụ sở làm việc.

Quá trình điều tra xác định:

Bị cáo Lê Kim A sử dụng điện thoại di động có số thuê bao 0325.635.239 để nhận tin nhắn mua số lô đề với khách và do bị cáo Nguyễn Thuý M chuyển đến; sau đó, Lê Kim A tổng hợp lại và chuyển đến một người đàn ông không quen biết có số thuê bao 0363.098.658 và tài khoản “Chtm658” trên ứng dụng Telegram để hưởng hoa hồng.

Ngày 03-4-2024, bị cáo Lê Kim A mua bán số lô đề với Nguyễn Thuý M và 03 người khách nhắn tin trực tiếp qua ứng dụng telegram với bị cáo; tương ứng với tổng số tiền là 363.765.307 đồng; trong đó: Nguyễn Thuý M là 19.094.739 đồng; khách sử dụng số điện thoại 0367.293.xxx có tài khoản “HCM” trên ứng dụng telegram là 118.553.568 đồng; khách sử dụng số điện thoại 0393.025.xxx có tài khoản “Bmaz” trên telegram là 180.144.000 đồng; khách có tài khoản LotteryVN “J” trên telegram là 45.973.000 đồng.

Căn cứ Kết quả mở thưởng của xổ số kiến thiết Miền Bắc ngày 03-4-2024 và thỏa thuận về tỷ lệ trả thưởng giữa người mua, người bán số lô số đề; xác định số lô số đề mà Lê Kim A đã nhận, khách chơi trúng thưởng tương ứng với tổng số tiền là 397.230.000 đồng.

Như vậy, xác định số tiền đánh bạc ngày 03-4-2024 của bị cáo Lê Kim A là 760.995.307 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Lê Kim A trình bày: Sau khi nhận tin nhắn mua số lô số đề của khách và bị cáo Nguyễn Thúy M chuyển đến, Lê Kim A tổng hợp và chuyển tất cả các số đề hai số, ba số, số lô cho một người đàn ông (không quen biết) có số thuê bao 0363.098.658 và có tài khoản telegram là “Chtm658” để được hưởng 5.230.547 đồng tiền hoa hồng; ngoài ra Lê Kim A còn để lại (tự ôm) một vài số lô xiên. Thời điểm bị phát hiện bắt quả tang, đã có kết quả xổ số nhưng bị cáo và các bên chưa thanh toán tiền cho nhau vì theo thỏa thuận tiền thắng thua sẽ được thanh toán qua tài khoản vào ngày hôm sau.

Đối với bị cáo Nguyễn Thúy M: Ngày 03-4-2024, bị cáo Nguyễn Thúy M sử dụng điện thoại di động có số thuê bao 0359.218.677 để bán số lô số đề cho bị cáo Hoàng Thanh N và 02 khách có số điện thoại 0394.313.xxx và số điện thoại 0378.758.xxx; tương ứng tổng số tiền là 45.840.202 đồng; trong đó: Hoàng Thanh N là 15.961.700 đồng; người sử dụng số điện thoại 0379.520.xxx là 5.369.780 đồng; người sử dụng số điện thoại 0378.758.xxx là 24.570.712 đồng. Sau đó, bị cáo Nguyễn Thúy M tổng hợp lại và chuyển một phần cho bị cáo Lê Kim A, phần còn lại Nguyễn Thúy M chuyển đến người phụ nữ không quen biết có số thuê bao 0375.743.822 để hưởng 117.892 đồng tiền hoa hồng. Căn cứ Kết quả xổ số ngày 03-4-2024, số tiền trúng thưởng của người mua số lô số đề với Nguyễn Thúy M là 45.220.000 đồng. Như vậy, xác định số tiền đánh bạc của Nguyễn Thúy M là 91.060.202 đồng nhưng chưa thanh toán tiền thắng thua cho nhau.

Đối với bị cáo Hoàng Thanh N: Ngày 03-4-2024, bị cáo Hoàng Thanh N sử dụng điện thoại di động có số thuê bao 0394.313.986 để bán các số lô số đề cho bị cáo Nông Thị L và khách có sử dụng số điện thoại 0338.682.xxx và một số người khác không rõ tên địa chỉ; tương ứng tổng số tiền là 26.721.490 đồng, trong đó bị cáo Nông Thị L là 16.379.457 đồng. Sau đó bị cáo Hoàng Thanh N tổng hợp lại rồi chuyển cho bị cáo Nguyễn Thúy M để hưởng 250.965 đồng hoa hồng. Theo Kết quả xổ số ngày 03-4-2024, người mua số lô số đề với Hoàng Thanh N trúng thưởng tương ứng số tiền 11.200.000 đồng. Như vậy, xác định số tiền đánh bạc của Hoàng Thanh N là 37.921.490 đồng nhưng chưa thanh toán tiền thắng thua cho nhau.

Đối với bị cáo Nông Thị L: Hàng ngày, bị cáo Nông Thị L bán số lô số đề cho khách vãng lai tại khu vực ngã ba đường Lê Lợi – 17/10, phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn rồi chuyển cho Hoàng Thanh N qua tin nhắn điện thoại di động để được hưởng tiền hoa hồng. Ngày 03-4-2024, bị cáo Nông Thị L bán số lô số đề cho khách tương ứng số tiền 12.939.502 đồng. Căn cứ kết quả xổ số ngày 03-4-2024, khách mua số lô số đề với Nông Thị L trúng thưởng tương ứng số tiền 3.440.000 đồng. Như vậy, xác định số tiền đánh bạc ngày 03-4-2024 của bị cáo Nông Thị L là 16.379.457 đồng; nhưng chưa thanh toán tiền thắng thua cho nhau.

Bản án hình sự sơ thẩm số 139/2024/HS-ST ngày 29-10-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã tuyên bố: Các bị cáo Lê Kim A, Nguyễn Thúy M và Hoàng Thanh N phạm tội Tổ chức đánh bạc; tuyên bố bị cáo Nông Thị L phạm tội Đánh bạc.

Căn cứ khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, các Điều 17, 38, 47, 50, 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Kim A 02 năm tù về tội Tổ chức đánh bạc. Ngoài ra, Bản án còn xử phạt bị cáo Nguyễn Thúy M, Hoàng Thanh N mức hình phạt từ 15 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án treo; xử phạt bị cáo Nông Thị L 10 tháng tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với các bị cáo theo quy định của pháp luật; truy thu sung quỹ Nhà nước tiền phạm tội; quyết định xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, bị cáo Lê Kim A kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Kim A thay đổi nội dung kháng cáo, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn: Quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm đã được các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật. Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Kim A về tội Tổ chức đánh bạc là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và xử phạt bị cáo 02 năm tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo đã xuất trình tài liệu chứng cứ mới thể hiện bị cáo đã thi hành xong khoản tiền truy thu sung Ngân sách Nhà nước và án phí hình sự sơ thẩm theo Bản án sơ thẩm đã tuyên; cung cấp Biên lai thể hiện bị cáo đã tham gia ủng hộ quỹ vì người nghèo và ủng hộ đồng bào bị lũ lụt năm 2024; ông bà ngoại của chồng bị cáo là cụ Ngô Gia T, Hoàng Thị T được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới mà bị cáo được hưởng theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 139/2024/HS-ST ngày 29-10-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn theo hướng chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Lê Kim A; đề nghị mức hình phạt giảm còn 01 năm 09 tháng tù đến 01 năm 10 tháng tù.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Kim A thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân như Bản án sơ thẩm đã tuyên, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, việc truy tố và xét xử bị cáo Lê Kim A về tội Tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện, đánh giá đúng tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và xử phạt bị cáo 02 năm tù là có căn cứ.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo từ xin hưởng án treo sang xin giảm hình phạt. Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo cung cấp tài liệu thể hiện bị cáo đã nộp toàn bộ số tiền bị truy thu sung quỹ Nhà nước là 327.156.000 đồng và 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo Bản án sơ thẩm đã tuyên; bị cáo tích cực tham gia hoạt động từ thiện tại địa phương như ủng hộ đồng bào bị thiệt hại do cơn bão số 3, ủng hộ quỹ vì người nghèo; chồng bị cáo hiện nay đang điều trị bệnh cường giáp; bị cáo có ông bà ngoại của chồng bị cáo là cụ Ngô Gia T và cụ Hoàng Thị T được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới mà bị cáo được hưởng theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Vì vậy, có căn cứ để giảm hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo cho tốt, sớm trở thành người có ích cho xã hội.

[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo là có căn cứ.

[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

[6] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7] Kết quả kiểm tra điện thoại lắp sim có số thuê bao 0325.635.239 mà bị cáo Lê Kim A đang sử dụng thể hiện tin nhắn qua ứng dụng telegram giữa bị cáo với người sử dụng tài khoản “Chtm658” có nội dung thể hiện việc chuyển thông tin mua số lô số đề từ bị cáo đến người sử dụng tài khoản “Chtm658" trên ứng ứng telegram. Do đó, việc bị cáo Lê Kim A khai sau khi nhận tin nhắn mua số lô số đề của khách và bị cáo Nguyễn Thúy M chuyển đến, Lê Kim A tổng hợp lại và chuyển đến một người đàn ông có số thuê bao 0363.098.658 và có tài khoản telegram là “Chtm658” để được hưởng tiền hoa hồng là có căn cứ. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa có kết quả đối với danh tính của người sử dụng số thuê bao 0363.098.658 có tài khoản telegram là “Chtm658” nói trên, nên chưa có căn cứ để xử lý đối với người này. Ngoài ra, lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra còn thể hiện những người sử dụng số điện thoại 0367.293.xxx; 0393.025.493; 0375.743.822; 0378.758.515; 0338.682.551; 0379.520.402 có liên quan đến việc mua bán số lô số đề. Vì vậy, kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tiếp tục xác minh, điều tra, xử lý hành vi mua bán số lô số đề của người sử dụng số thuê bao, tài khoản telegram nói trên theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Lê Kim A; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 139/2024/HS-ST ngày 29-10-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn về phần hình phạt tù đối với bị cáo Lê Kim A, cụ thể như sau:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

    Xử phạt bị cáo Lê Kim A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 03-4-2024 đến ngày 07-6-2024.

  2. Xác nhận bị cáo Lê Kim A đã nộp 327.356.000 (ba trăm hai mươi bảy triệu ba trăm năm mươi sáu nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền số 0000336 ngày 06 tháng 11 năm 2024, Biên lai thu tiền số 0000482 ngày 17 tháng 02 năm 2025 và Biên lai thu tiền số 0000393 ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, để thi hành án.
  3. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Bị cáo Lê Kim A không phải chịu phí hình sự phúc thẩm.

  4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Phòng PV06 Công an tỉnh Lạng Sơn;
  • - Trại tạm giam, Công an tỉnh Lạng Sơn;
  • - TAND TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;
  • - CCTHADS TP. L, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Công an TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ, HCTP, KTNV, Tòa Hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Minh Thùy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HS-PT ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN về vụ án hình sự phúc thẩm về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc.

  • Số bản án: 07/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Kim A - Tổ chức đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger