Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỦ THỪA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HS-ST

Ngày 17-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Nhị

Ông Bùi Mạnh Quyết

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Thi - Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Văn D (tên gọi khác: không); sinh năm: 1984. Giới tính: Nam. Nơi sinh: Long An; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Long An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 08/12. Nghề nghiệp: làm ruộng. Cha Trần Văn V và mẹ Nguyễn Thị R. Bị cáo có vợ Hồ Thị Kim D1 và 01 con sinh năm 2006. Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 09/7/2024 đến 15/7/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện T.

2. Họ và tên: Trần Quang V1, sinh năm: 1990 (tên gọi khác: không). Giới tính: Nam. Nơi sinh: Long An; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 09/12. Nghề nghiệp: làm ruộng. Cha Trần Văn K và mẹ Lê Thị N. Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 09/7/2024 đến 15/7/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1969. Nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.

Bà Đoàn Thị H, sinh năm 1975. Nơi cư trú: Ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 9 giờ ngày 09/7/2024, Trần Văn D và Trần Quang V1 uống cà phê tại quán T3 ở Ấp C, xã M, huyện T. Tại đây, do buồn chuyện gia đình và làm ăn nên D nói với V1 “Tao buồn quá, tao với mày lên quán STAR chơi”, mục đích là D rủ V1 đến quán K1 ở Ấp C, xã M để uống bia, hát karaoke và sử dụng ma túy, V1 đồng ý. D nói với V1 “Mày lên lấy phòng trước đi, chút tao lên sau”, V1 điều khiển xe mô tô, biển số 62N1-408.47 mượn của Nguyễn Đình Đ đến quán K1 trước. Tại đây, V1 gặp bà Đoàn Thị H và được bà H hướng dẫn lên phòng hát số 05 của quán. Khoảng 10 phút sau thì D điều khiển xe mô tô, biển số 62G1-344.80 mượn của Hồ Thị Kim D1 đến quán. Bà H có vào phòng để mở nhạc, mang bia, trái cây, nước ngọt... cho D và V1. Tại đây, D nói với V1 “Mày có quen ai không? Điện lấy “đồ”, lấy nửa hộp khay (Ketamine) với một bịch nước”. V1 điện thoại cho người phụ nữ tên N1 không rõ nhân thân nhờ đặt dùm nửa hộp khay và một bịch nước vui (Ma túy loại Ketamine và ma túy loại nước vui) giao đến phòng số 05, quán K1, N1 đồng ý. Khoảng 30 phút sau thì có 01 người đàn ông lạ mặt, đeo khẩu trang, mặc áo khoác trùm kín người đi vào phòng hát số 05 đưa cho V1 01 gói giấy, bên trong đựng tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng được gói lại, bên trong tờ tiền này có chứa tinh thể màu trắng là ma túy loại Khay và 01 túi nylon màu đỏ là ma túy loại nước vui. V1 nói với D: “Anh trả tiền trước đi, tiền bạc anh em mình tính toán lại sau”. Diễn trả cho người đàn ông này số tiền 5.500.000 đồng. Sau đó, người đàn ông này rời khỏi quán. Nhận được ma túy, V1 mở gói giấy, đổ ma túy loại khay vào 01 đĩa sành (đĩa đựng khăn giấy trong phòng) rồi lấy tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng quấn thành ống hút tự chế, dùng thẻ căn cước công dân của Văn trộn lẫn ma túy rồi kẻ thành nhiều đường để V1 và D thay phiên nhau hít vào cơ thể bằng mũi. Sau đó, V1 pha chế nước vui để cả hai sử dụng đến khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang, niêm phong tang vật nghi là ma túy và tạm giữ các đồ vật, tài sản có liên quan. Tại cơ quan công an, Trần Văn D và Trần Quang V1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện T có thu giữ vật chứng gồm:

Tinh thể màu trắng đựng trên đĩa sành màu trắng đã được niêm phong, ký hiệu M1. 01 chai nhựa trong suốt (loại chai nước suối), bên trong có chứa chất lỏng màu cam và chất lỏng trong suốt đọng chất màu trắng đã được niêm phong, ký hiệu M2, hai mẫu vật này đã được gửi giám định.

01 gói niêm phong số 485, ngày 15/7/2024, có chữ ký, ghi rõ họ tên của người niêm phong Nguyễn Công Bảo T, người chứng kiến Phạm Thị Thanh T1 và hình dấu mộc tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh L. Đây là gói niêm phong đựng mẫu vật hoàn trả sau giám định chất ma túy (mẫu M1) có khối lượng 0,1983 gam ma túy loại Ketamine. Riêng mẫu M2 đã được sử dụng hết cho công tác giám định.

01 (một) tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng; 01 (một) đĩa sành màu trắng; 01 (một) ống hút tự chế làm bằng tờ tiền polymer mệnh giá 20.000 đồng; 01 (một) ly thủy tinh có quai. Đây là dụng cụ để sử dụng trái phép chất ma túy.

01 điện thoại di động hiệu OPPO màu trắng cùng sim số 0933939278 gắn bên trong của Trần Quang V1, sử dụng để gọi điện thoại nhờ đặt mua ma túy để sử dụng.

Số vật chứng nêu trên hiện Chi cục THADS huyện T đang quản lý chờ xét xử.

Tại Kết luận giám định số 485/KL-KTHS ngày 15/7/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh L kết luận: “Chất bột màu trắng đựng trong gói giấy bạc được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2828 gam, loại : Ketamine." H1 lại đối tượng giám định: mẫu còn lại sau giám định có khối lượng 0,1983 gam (BL 53).

Tại Bản kết luận giám định số: 4251/KL-KTHS ngày 02/8/2024 của Phân viện KHHS tại Thành phố Hồ Chí Minh (C) kết luận (BL 58):

  • - Mẫu M1 được niêm phong gửi giám định là ma túy; loại: Ketamine, MDMA; thể tích: 295 mL. Trong đó: Khối lượng chất ma túy Ketamine trong 295ml của mẫu M1: 0,5770 gam. Khối lượng chất ma túy MDMA trong 295ml của mẫu M1: 0,4440 gam.
  • - Mẫu M2 được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Ketamine; thể tích: 255 M. Khối lượng chất ma túy Ketamine trong 255ml của mẫu M2: 0,0371 gam.
  • - Không hoàn lại đối tượng gửi giám định: mẫu đã sử dụng hết cho công tác giám định.

Tại Cáo trạng số: 02/CT-VKS, ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa truy tố để xét xử bị can Trần Văn D, Trần Quang V1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thưa giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Văn D, Trần Quang V1 trong phần luận tội đã phân tích đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38; Điều 50; Điều 58, khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn D từ 02 (hai) năm 06(sáu) tháng đến 03(ba) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38; Điều 50; Điều 58; khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự và đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Trần Quang V1 từ 02 (hai) đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong số 485, ngày 15/7/2024, có chữ ký, ghi rõ họ tên của người niêm phong Nguyễn Công Bảo T, người chứng kiến Phạm Thị Thanh T1 và hình dấu mộc tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh L.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đĩa sành màu trắng; 01 (một) ly thủy tinh có quai cùng xác sim số 0933939278 gắn bên trong điện thoại di động hiệu OPPO màu trắng của Trần Quang V1.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, 01 (một) ống hút tự chế làm bằng tờ tiền polymer mệnh giá 20.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu trắng

Tại phiên tòa, các Bị cáo Trần Văn D, Trần Quang V1 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa đã nêu. Các bị cáo không thực hiện quyền tranh luận mà xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Tại phiên tòa bị cáo D, V1 không khiếu nại các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố. Hồ sơ vụ án thể hiện trong giai đoạn điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố vụ án thì hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên tiến hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[1.2]. Ông Nguyễn Văn B, bà Đoàn Thị H vắng mặt tuy nhiên đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về nội dung

[2.1]. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã nêu, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản tạm giữ đồ vật, kết luận giám định đồng thời còn phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ nên đã đủ cơ sở khẳng định:

Bị cáo Trần Văn D rủ bị cáo Trần Quang V1 cùng góp tiền mua ma túy để sử dụng tại quán K1 của ông Nguyễn Văn B tại ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Long An. Khi bị bắt quả tang thu giữ được chất bột màu trắng và chất lỏng màu cam. Tại Kết luận giám định số 485/KL-KTHS ngày 15/7/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh L và bản kết luận giám định số: 4251/KL-KTHS ngày 02/8/2024 của Phân viện KHHS tại Thành phố Hồ Chí Minh (C) kết luận tang vật thu giữ được xác định là 0,8969 gam ma túy loại Ketamine và 0,4440 gam ma túy loại MDMA. Do đó hành vi của bị cáo D, V1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự

[2.2]. Xét tính chất, mức độ và hậu quả hành vi gây ra: Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo thực hiện do lỗi cố ý đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa phương và ảnh hưởng tới sức khỏe của người khác. Do đó, cần thiết phải xử lý các bị cáo một hình phạt nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[2. 3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[2.3.1]. Tình tiết tăng nặng: Không có

[2. 3.2]. Tình tiết giảm nhẹ:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó cần xem xét cho bị cáo D tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo V1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có ông bà là người có công với cách mạng do đó cần xem xét cho bị cáo V1 được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[2. 4]. Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo. Tuy nhiên bị cáo D được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo V1 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nên Hội đồng xét xử chỉ xử phạt bị cáo hình phạt tù ở hơn mức khởi điểm của khung hình phạt mà các bị cáo bị truy tố là phù hợp.

Trong vụ án này bị cáo D là người rủ rê và bỏ tiền ra mua ma túy, bị cáo V1 là người liên hệ thuê phòng và mua ma túy nên đây là vụ án có tính chất đồng phạm nhưng thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Xét tính chất và vai trò của từng bị cáo trong vụ án thì Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo D giữ vai trò cao hơn bị cáo V1 do đó bị cáo D phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo V1 là phù hợp.

[2.5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều là người có công việc, thu nhập không ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[2.6] Về xử lý vật chứng:

Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện T có thu giữ vật chứng gồm:

  • 01 gói niêm phong số 485, ngày 15/7/2024, có chữ ký, ghi rõ họ tên của người niêm phong Nguyễn Công Bảo T, người chứng kiến Phạm Thị Thanh T1 và hình dấu mộc tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh L.
  • 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng; 01 (một) đĩa sành màu trắng; 01 (một) ống hút tự chế làm bằng tờ tiền polymer mệnh giá 20.000 đồng; 01 (một) ly thủy tinh có quai.
  • 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu trắng cùng sim số 0933939278 gắn bên trong của Trần Quang V1

[2.6.1] Xét thấy gói niêm phong số 485 có chứa các mẫu vật bên trong được giám định là chất ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy;

01 (một) đĩa sành màu trắng, 01 (một) ly thủy tinh có quai là dụng cụ dùng để sử dụng ma túy, 01 xác sim điện thoại số 0933.939.xxx dùng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.

[2.6.2] Số tiền 2.000 đồng, ống hút tự chế làm bằng tờ tiền polymer mệnh giá 20.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu trắng của bị cáo V1 dùng để mua ma túy nên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước

[3]. Xe mô tô, biển số 62G1-344.80 của chị Hồ Thị Kim D1, chị D1 không biết việc D điều khiển xe mô tô trên đến quán K1 để sử dụng ma túy. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả cho chị D1 là phù hợp.

[4]. Xe mô tô, biển số 62N1-408.47 của anh Nguyễn Đình Đ, anh Đ không biết việc V1 điều khiển xe mô tô trên đến quán K1 để sử dụng ma túy. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả cho anh Đ là phù hợp.

[5]. 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen cùng sim số 0342668485 gắn bên trong máy; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu tím cùng sim số 0944959640 gắn bên trong máy; 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Trần Quang V1. Đây là tài sản và giấy tờ tùy thân cá nhân của Trần Văn D, không có liên quan đến vụ án. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả cho D là phù hợp

[6]. Đối với số ma túy còn lại khi Cơ quan CSĐT Công an huyện T tiến hành bắt quả tang có khối lượng là 0,8969 gam loại Ketamine và 0,4440 gam, loại MDMA, Trần Văn D và Trần Quang V1 đều khẳng định số ma túy này đã được nấu và pha chế không thể sử dụng được ngày hôm sau, các bị cáo sẽ sử dụng hết số ma túy này nếu không bị bắt quả tang và khi bị bắt quả tang số ma túy trên được để công khai trên bàn. Do đó, không đủ cơ sở để xử lý Trần Văn D, Trần Quang V1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là phù hợp.

[7]. Đối với người phụ nữ đã đặt mua ma túy dùm cho Trần Quang V1 và người đàn ông giao ma túy đến cho V1 và D đều không rõ nhân thân, lai lịch, đặc điểm nhận dạng, Cơ quan CSĐT Công an huyện T không đủ cơ sở xử lý là phù hợp

[8]. Đối với bà Đoàn Thị H là quản lý, chịu trách nhiệm điều hành hoạt động của cơ sở kinh doanh Karaoke STAR vào ngày 09/7/2024 nhưng để các đối tượng sử dụng địa điểm do mình quản lý để thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên bản thân bà H không biết việc này nên không phạm vào tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 256 Bộ luật Hình sự là phù hợp.

[9]. Đối với ông Nguyễn Văn B là chủ hộ kinh doanh. Ông B đã giao cho bà Đoàn Thị H, ông Trần Văn H2 (chồng bà H) và Trần Nhật T2 (con bà H) đứng ra quản lý, điều hành hoạt động của cơ sở nhưng chỉ thỏa thuận miệng, không có văn bản ủy quyền. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T chuyển hồ sơ và tài liệu có liên quan đến Đội CSQLHC về TTXH Công an huyện để xử lý theo quy định là phù hợp.

[10]. Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa đã phản ánh đúng hành vi mà bị cáo đã thực hiện, phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xác định cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa đề nghị của ông Kiểm sát viên là có căn cứ pháp luật nên được chấp nhận.

[11] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn D, Trần Quang V1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Điều 17, Điều 38; Điều 50; Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Trần Văn D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời gian tù tính từ ngày bắt tạm giữ 09/7/2024.

Áp dụng Điều 17, Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Trần Quang V1 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời gian tù tính từ ngày bắt tạm giữ 09/7/2024.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Văn D, bị cáo Trần Quang V1 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17/02/20254) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 485, ngày 15/7/2024, có chữ ký, ghi rõ họ tên của người niêm phong Nguyễn Công Bảo T, người chứng kiến Phạm Thị Thanh T1 và hình dấu mộc tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh L.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đĩa sành màu trắng, 01 (một) ly thủy tinh có quai, 01 xác sim điện thoại số [...] gắn bên trong điện thoại di động hiệu OPPO màu trắng;

Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: Số tiền 2.000 đồng, ống hút tự chế làm bằng tờ tiền polymer mệnh giá 20.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu trắng.

(Tất cả các vật chứng nêu trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 02/QĐ-VKS ngày 18/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo Trần Văn D và bị cáo Trần Quang V1 phải nộp mỗi bị cáo 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.

4. Án xử sơ thẩm công khai, báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (17/02/2025). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện, tỉnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Long An;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Công an huyện;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 07/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn D cùng đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger