|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 07/2025/HS -ST Ngày: 13-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Dương Thị Phương
Các Hội thẩm nhân dân: + ông Phạm Ngọc Lợi
+ bà Nguyễn Thị Tươi.
Thư ký phiên toà: ông Phạm Quang Minh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư tham gia phiên toà:
ông Phạm Ngọc Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hoa Lư xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 158/2024/TLST- HS ngày 06 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST- HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H (Tên gọi khác: không). Giới tính: N; sinh năm: 1988. Nơi ĐKHKTT: Số nhà A, đường N, phố N, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.Nơi cư trú : Số nhà F, phố C, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn C - Sinh năm 1961, con bà: Đỗ Thị Lan H1 - Sinh năm 1962; Gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Phạm Thị N1 – Sinh năm 1993, có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân”
Bản án số 43/2018/HS-ST ngày 24/5/2018 của Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội “Không tố giác tội phạm”.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/4/2024 cho đến nay ( có mặt tại phiên toà).
1
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - chị Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1984; địa chỉ : số nhà B, ngõ B, phố B, phường T ( nay là phường V), thành phố H, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).
- - chị Nguyễn Thị Quỳnh A, sinh năm 1991; địa chỉ : ngõ B, H, phường N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình ( vắng mặt).
- - anh Lê Mạnh H2, sinh năm 1982; địa chỉ : số B, ngõ A, đường C, phường Đ, thành phố H, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).
- - anh Đinh Minh Q, sinh năm 1993; địa chỉ : số nhà A, ngõ I, đường P, phường V, thành phố H, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).
- Người làm chứng :
- - anh Nguyễn Duy P, sinh năm 1983; địa chỉ : ngõ A, đường N, phường T, thành phố H, tỉnh Ninh Bình ( vắng mặt).
- Người chứng kiến :
- - anh Trần Viết X, sinh năm 1971; địa chỉ : phố P, phường N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn H là người không có giấy phép kinh doanh trong lĩnh vực cho vay, cấp tín dụng nhưng H đã cho nhiều người vay tiền với mức lãi suất hơn 05 lần so với mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 trong Bộ luật dân sự năm 2015, nhằm thu lợi bất chính với hình thức H sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, lắp sim 0912.993.279 và tài khoản mạng xã hội Zalo có tên “Huy Khoa P” để liên lạc thỏa thuận các khoản vay, tiền lãi, cách thức trả lãi với người vay. Sau đó H chuyển tiền cho người vay qua tài khoản số [...] của ngân hàng V mang tên Nguyễn Văn H hoặc đưa tiền mặt. Người vay tùy hình thức vay sẽ chuyển tiền lãi cho H qua tài khoản ngân hàng trên của H theo thỏa thuận, cụ thể:
- Đối với chị Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1984, trú tại số nhà D, ngõ C, đường N, phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, từ tháng 05/2023 đến ngày 11/4/2024, H cho chị T vay 02 lần, cụ thể:
Gói vay 1:
Ngày 09/05/2023, H cho chị T vay số tiền 50.000.000 đồng với lãi suất thoả thuận là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tương đương
2
110%/năm. Thỏa thuận tiền lãi trả theo ngày cộng dồn tròn 1 tháng trả lãi 1 lần, tháng nào 31 ngày tính tiền lãi 31 ngày. Hào thu tiền lãi trước 15 ngày với số tiền 2.250.000 đồng và chuyển khoản số tiền 47.750.000 đồng cho chị T. Đến ngày 07/06/2023, chị T trả lãi vào tài khoản của H số tiền lãi 2.000.000 đồng và ngày 08/6/2023 số tiền lãi 250.000 đồng. Ngày 29/6/2023, chị T chuyển trả số tiền 53.300.000 đồng gồm 3.300.000 đồng tiền lãi và 50.000.000 đồng tiền gốc của khoản vay này cho H.
Như vậy, số tiền lãi chị T trả cho H trong 52 ngày là 7,800,000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa 20% theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 1,424,658 đồng, số tiền H đã thu lợi bất chính là 6,375,342 đồng.
Gói vay 02:
Ngày 25/7/2023, H cho chị T vay số tiền 100.000.000 đồng với lãi suất thoả thuận là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tương đương lãi suất 110%/năm. Thỏa thuận tiền lãi trả theo ngày cộng dồn tròn 1 tháng trả lãi 1 lần, tháng nào 31 ngày tính tiền lãi 31 ngày. Hào thu tiền lãi trước 30 ngày với số tiền 9.000.000 đồng và chuyển số tiền 91.000.000 đồng cho chị T. Sau đó, trong các ngày 29/08/2023 chị T trả lãi 9.300.000 đồng, ngày 12/10/2023 chị T trả lãi 9.000.000 đồng, ngày 01/12/2023 chị T trả lãi 9.300.000 đồng, ngày 07/01/2024 chị T trả lãi 5.000.000 đồng, ngày 24/01/2024 chị T trả lãi 2.000.000 đồng vào tài khoản của H; ngày 28/01/2024 chị T trả lãi vào tài khoản của anh Đinh Minh Q, sinh năm 1993, trú tại phường V, thành phố N là bạn của H được nhờ nhận giúp với số tiền 11.500.000 đồng, còn 100.000 đồng tiền lãi H cho chị T. Chị T còn nợ số anh H tiền gốc của khoản vay này là 100.000.000 đồng.
Như vậy, tính đến ngày 28/01/2024, số tiền lãi H đã thu của chị T đối với khoản vay này trong 184 ngày là 55,200,000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa 20% theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 10,082,192 đồng, số tiền H đã thu lợi bất chính là 45,117,808 đồng.
Sau 02 lần vay tiền, tổng số tiền gốc Hào đã cho chị T vay là 150,000,000 đồng và trả tổng số tiền lãi là 63,000,000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa 20% theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 11,506,849 đồng, số tiền H đã thu lợi bất chính là 51.493.151 đồng.
- Đối với chị Nguyễn Thị Quỳnh A, sinh năm 1991, trú tại phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình: Ngày 29/03/2023, H cho chị Quỳnh A vay số tiền là 21.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, tương đương lãi
3
suất 110 %/năm. Thỏa thuận tiền lãi trả theo ngày cộng dồn tròn 1 tháng trả lãi 1 lần, tính tròn 30 ngày 01 tháng với số tiền là 1.890.000 đồng. Đến ngày 25/3/2023, chị Quỳnh A mới trả 17.270.000 đồng tiền lãi cho H. Tính đến ngày 29/03/2024 chị Quỳnh A còn nợ H 5,410,000 đồng tiền lãi và 21.000.000 tiền gốc.
Như vậy từ ngày 29/3/2023 đến ngày 29/3/2024, số tiền gốc H đã cho chị Q1 vay là 21,000,000 đồng và trả tổng số tiền lãi là 22,680,000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa 20% theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 4.142.466 đồng, số tiền H đã thu lợi bất chính là 18.537.534 đồng.
- Đối với anh Lê Mạnh H2, sinh năm 1982, trú tại phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình: Ngày 01/7/2023, H cho anh H2 vay số tiền 15.000.000 đồng với lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tương đương 146%/năm. Thỏa thuận tiền lãi trả theo ngày cộng dồn tròn 1 tháng trả lãi 1 lần, tháng thừa cũng như tháng thiếu tính tròn 30 ngày với số tiền là 1.800.000 đồng. Đến ngày 02/04/2024 anh H2 đã trả tổng số tiền lãi 16.200.000 đồng cho H và nợ lại số tiền 15.000.000 đồng tiền gốc.
Như vậy, số tiền gốc H đã cho anh H2 vay là 15.000.000 đồng và trả tổng số tiền lãi là 16,200,000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa 20% theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 2.219.178 đồng đồng, số tiền H đã thu lợi bất chính là 13.980.822 đồng.
Khoảng 13 giờ 25 phút ngày 11/4/2024 tại địa chỉ số nhà D, ngõ C, đường N, phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình là nhà ở của chị Nguyễn Thị Bích T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N bắt quả tang Nguyễn Văn H có hành vi cho Nguyễn Thị Bích T vay tiền với lãi suất 3.000 đồng /01 triệu/01 ngày. Quá trình kiểm tra, Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, đồng thời giao nộp 01 điện thoại Iphone 14 Promax, lắp sim số thuê bao: 0912.993.279; số tiền 20.000.000 đồng là tiền chị T trả lãi vay cho H. Ngoài ra còn thu giữ của Nguyễn Thị Bích T 01 tờ giấy do chị T tự viết thể hiện việc ghi chép quá trình vay nợ, trả tiền lãi suất cho Nguyễn Văn H, 01 điện thoại di động Iphone XS Max lắp sim số 0912.420.575 và 01 điện thoại di động Iphone 13Pro Max không lắp sim.
Căn cứ tài liệu điều tra, ngày 23/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N ra Lệnh phong tỏa tài khoản số 201/LPT-CSHS cùng số tiền 112.252.975 đồng trong tài khoản 109866711536 Ngân hàng TMCP C1 – Chi nhánh N2 mang
4
tên Nguyễn Văn H là tài khoản ngân hàng mà H sử dụng để cho vay lãi nặng và thu lời bất chính mà có.
Cáo trạng số 165/CT-VKSNDTPNB ngày 06/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình ( nay là thành phố H) tỉnh Ninh Bình đã truy tố Nguyễn Văn H về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự " theo khoản 1, khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đủ yếu tố cấu thành tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1. Điều 201; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự. Xử phạt tiền Nguyễn Văn H từ 70.000.000 đồng đến 90.000.000 đồng. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Các biện pháp tư pháp:
áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS
- - Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp lại số tiền 50.000.000 đồng tiền gốc đã cho chị Nguyễn Thị Bích T vay và tổng số tiền lãi tương ứng với mức lãi xuất 20%/năm là 16.878.899 đồng để sung quỹ Nhà nước.
- - Buộc Nguyễn Văn H phải trả lại số tiền thu lợi bất chính đã thu của những người vay, cụ thể: Trả lại cho chị Nguyễn Thị Bích T số tiền 51.493.151 đồng; chị Nguyễn Thị Quỳnh A số tiền 14.109.123 đồng, Lê Mạnh H2 số tiền 13.980.822 đồng.
- - Buộc chị Nguyễn Thị Bích T, chị Nguyễn Thị Quỳnh A và anh Lê Mạnh H2 phải nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền đã vay nhưng chưa thanh toán cho bị cáo Nguyễn Văn H, cụ thể: Chị Nguyễn Thị Bích T số tiền 100.000.000 đồng; Chị Nguyễn Thị Quỳnh A số tiền 21.989.589 đồng; anh Lê Mạnh H2 số tiền 15.000.000 đồng.
- - Tịch thu xung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 14 Promax. Quản lý số tiền thu giữ của bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH.
Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng:
Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
5
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau :
[1] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình: Bị cáo là người không có giấy phép kinh doanh trong lĩnh vực cho vay, cấp tín dụng nhưng H đã cho nhiều người vay tiền với mức lãi suất hơn 5 lần so với mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, nhằm thu lợi bất chính. Trong khoảng thời gian từ tháng 3 năm 2023 đến tháng 4 năm 2024, trên địa bàn thành phố N ( nay là thành phố H) tỉnh Ninh Bình, Nguyễn Văn H đã cho các chị Nguyễn Thị Bích T, Nguyễn Thị Quỳnh A và anh Lê Mạnh H2 vay tiền với lãi suất với lãi suất đều là 3.000 đồng hoặc 4.000 đồng/01triệu đồng/01ngày, tương đương mức lãi suất 109,5%/năm hoặc 146%/năm, gấp hơn năm lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền lãi H đã thu của anh H2, chị T, chị Quỳnh A là 96.461.995 đồng, trong đó số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự H được hưởng là 16.878.899 đồng, số tiền H đã thu lợi bất chính là 79.583.096 đồng. Chị Nguyễn Thị Bích T đã trả cho bị cáo 50.000.000 đồng tiền vay; các anh, chị: Nguyễn Thị Quỳnh A, Nguyễn Thị Bích T và anh Lê Mạnh H2 còn nợ bị cáo Nguyễn Văn H tổng số tiền vay là 136.000.000 đồng.
Lời khai của bị cáo phù hợp khách quan với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Do vậy khẳng định hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H trong giao dịch dân sự đã cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất theo quy định trong Bộ luật dân sự là 20%/năm tương ứng với 547,9 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, bị cáo đã thu lợi bất chính số tiền 79.583.096 đồng là phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 201 BLHS như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình (nay là thành phố H) tỉnh Ninh Bình đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành
6
chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm..
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
[2] Đánh giá tính chất hành vi và mức độ phạm tội của bị cáo cho thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về tín dụng mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ; xâm phạm đến lợi ích của công dân được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích lợi nhuận, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật thực hiện hành vi cho vay lãi nặng, gây thiệt hại cho người vay tiền, làm cho người vay phải chịu mức lãi quá cao. Do vậy, để giữ nghiêm kỷ cương phép nước, có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung thì việc đưa ra xét xử buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với hành vi phạm tội của mình là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét:
Về tình tiết tăng nặng:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự.
Áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật. Xét thấy, việc áp dụng hình phạt tiền với mức tương xứng đối với bị cáo cũng đủ tính chất răn đe và giáo dục bị cáo.
Về hình phạt bổ sung:
Do đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[3] Về biện pháp tư pháp:
Đối với số tiền gốc là 100.000.000 đồng và tiền lãi của bị cáo cho chị Nguyễn Thị Bích T vay và thoả thuận của các bên về việc giảm lãi từ 3.000 đồng xuống còn 2.500 đồng từ ngày 25/01/2024, chị T đã trả lãi được 80 ngày số tiền là
7
20.000.000 đồng cho bị cáo. Số tiền gốc 100.000.000 đồng này theo bị cáo khai là chị T vay lại và các bên thoả thuận giảm lãi. Nên khi bị cáo chưa nhận và sử dụng số tiền này thì bị phát hiện bắt quả tang. Do vậy, không tính số tiền lãi 20.000.000 đồng này vào số tiền mà bị cáo được chiếm hưởng mà cần tịch thu sung quỹ nhà nước đối với số tiền này.
Số tiền lãi chị Nguyễn Thị Quỳnh A còn nợ chưa trả cho bị cáo H tính đến ngày 29/3/2024 là 5.410.000 đồng, trong đó số tiền 989.589 đồng là tiền lãi theo quy định của pháp luật cần truy thu của chị Quỳnh A để xung quỹ Nhà nước. Số tiền còn lại là 4.420.411 đồng bị cáo chưa thu nên không buộc bị cáo phải trả lại cho chị Nguyễn Thị Quỳnh A.
[3.1] Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định tổng cộng khoản tiền bị cáo Nguyễn Văn H cho vay (tiền gốc) là 186.000.000 đồng được xác định là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước. Tuy nhiên, bị cáo mới chỉ nhận số tiền 50.000.000 đồng chị Nguyễn Thị Bích T trả, số tiền gốc còn lại những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị T, chị Quỳnh A và anh H2 đều chưa trả cho bị cáo. Nên cần truy thu số tiền gốc là 50.000.000 đồng của bị cáo và buộc những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nộp lại số tiền gốc bị cáo đã cho vay để sung quỹ Nhà nước.
Số tiền lãi 16.878.899 đồng tương ứng với mức lãi xuất 20%/năm, tuy không bị tính khi xác định trách nhiệm hình sự, nhưng đây cũng là khoản tiền phát sinh từ tội phạm bị cáo đã thu của những người vay. Số tiền lãi 5.410.000 đồng mà chị Nguyễn Thị Quỳnh A còn nợ chưa trả cho bị cáo H, trong đó có 20% là số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật, cần truy thu của chị Quỳnh A là 989.589 đồng để sung quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
[3.2] Đối với số tiền 79.583.096 đồng bị cáo thu lợi bất chính từ việc cho vay, theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự thì “ Trường hợp lãi xuất theo thỏa thuận vượt quá lãi xuất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi xuất vượt quá không có hiệu lực”. Do đó, khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất trên 20%/năm là khoản tiền mà bị cáo Nguyễn Văn H thu lợi bất chính của người vay nên được trả lại cho người vay tiền. Cụ thể là các chị Nguyễn Thị Bích T, Nguyễn Thị Quỳnh A và anh Lê Mạnh H2.
Số tiền bị cáo phải nộp để sung ngân sách Nhà nước và số tiền trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được đối trừ trong khoản tiền Cơ quan
8
điều tra Công an thành phố N (nay là thành phố H) tỉnh Ninh Bình đã phong toả tài khoản của bị cáo và chuyển số tiền này vào tài khoản Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình ( nay là thành phố H) tỉnh Ninh Bình để đảm bảo thi hành án.
Số tiền bị cáo cho anh H2, chị T và chị Quỳnh A vay, nhưng những người này chưa trả cho bị cáo H nên cần buộc họ phải nộp lại số tiền đã vay để sung quỹ Nhà nước.
[3.3] Chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 promax bị cáo dùng để liên lạc gọi điện, nhắn tin thông báo tiền lãi, thời hạn trả nợ, là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[4] Các vấn đề khác:
Quá trình điều tra xác định, từ ngày 25/01/2024 đến ngày 11/04/2024, Nguyễn Thị Bích T thỏa thuận với Nguyễn Văn H giảm lãi suất số tiền vay 100.000.000 đồng của gói vay 02 từ 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày xuống lãi suất là 2.500 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày tương đương 91%/1 năm, vượt quá 4,6 lần trở lên mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự. Tổng số tiền gốc H đã cho chị T vay là 100.000.000 đồng và trả tổng số tiền lãi là 20.000.000 đồng trong đó số tiền lãi tối đa 20% theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự đối với các khoản vay này là 4,383,562 đồng, số tiền H đã thu lợi bất chính là 15,616,438 đồng. Vì số tiền H thu lợi bất chính dưới 30.000.000 đồng và lãi suất vay chưa vượt quá 5 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự. Trong khi H chưa có tiền án, tiền sự về tội quy định tại Điều 201 Bộ luật Hình sự. Do vậy, hành vi trên của Nguyễn Văn H chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại Điều 201 Bộ luật Hình sự. Công an thành phố N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn H về hành vi “Không đăng ký ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự mà cho vay tiền có cầm cố tài sản hoặc không cầm cố tài sản nhưng lãi suất cho vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự” theo quy định tại điểm đ, khoản 4, Điều 12 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ với số tiền phạt 15.000.000 đồng là đúng pháp luật.
Đối với anh Đinh Minh Q, sinh năm 1993, trú tại phường V, thành phố N là bạn của H. Ngày 28/01/2024 H mượn số tài khoản của anh Q để nhận giúp số tiền 11.500.000 đồng là tiền chị T trả lãi cho H. Quá trình điều tra xác định anh Q không biết số tiền trên là tiền lãi do H cho vay lãi nặng mà có, ngày 29/01/2024 anh
9
Q đã chuyển trả lại số tiền trên cho anh H. Do vậy không có căn cứ xử lý đối với anh Đinh Minh Q.
Căn cứ vào tài liệu điều tra xác định có nhiều tài khoản ngân hàng có liên quan đến việc chuyển và nhận tiền với tài khoản số [...] ngân hàng V của Nguyễn Văn H. Quá trình điều tra xác định đây là những giao dịch cho vay không lấy lãi hoặc để chi tiêu sinh hoạt cá nhân giữa Nguyễn Văn H và những người chuyển, nhận tiền, do vậy không có căn cứ để xử lý.
[5] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 các Điều 135, 136; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự ”. Xử phạt tiền Nguyễn Văn H 80.000.000 đồng (T1 mươi triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.
- Các biện pháp tư pháp:
- Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp lại số tiền 50.000.000 đồng ( Năm mươi triệu đồng) và số tiền 16.878.899 đồng để sung quỹ Nhà nước.
10
-
- Buộc bị cáo phải trả lại số tiền mà bị cáo đã thu lời bất chính cho những người vay với tổng số tiền là 79.583.096 đồng (Bảy mươi chín triệu năm trăm tám ba nghìn không trăm chín sáu đồng). Cụ thể:
- - Trả cho chị Nguyễn Thị Bích T số tiền 51.493.151 đồng (Năm mươi mốt triệu bốn trăm chín ba nghìn một trăm năm mươi mốt đồng).
- - Trả cho chị Nguyễn Thị Quỳnh A số tiền 14.109.123 đồng (Mười bốn triệu một trăm linh chín nghìn một trăm hai ba đồng).
- - Trả lại cho anh Lê Mạnh H2 số tiền 13.980.822 đồng (Mười ba triệu chín trăm tám mươi nghìn tám trăm hai hai đồng).
- Buộc những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan phải nộp lại số tiền vay, tiền lãi theo quy định của pháp luật để sung quỹ Nhà nước, cụ thể :
- - chị Nguyễn Thị Bích T số tiền là 100.000.000 đồng ( một trăm triệu đồng).
- - chị Nguyễn Thị Quỳnh A số tiền là 21.989.589 đồng ( hai mươi mốt triệu chín trăm tám chín nghìn năm trăm tám chín đồng) .
- - anh Lê Mạnh H2 số tiền là 15.000.000 đồng ( mười lăm triệu đồng).
- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 20.000.000 đồng ( hai mươi triệu đồng) trong tổng số tiền thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn H.Tiếp tục quản lý số tiền 112.252.975 đồng (Một trăm mười hai triệu hai trăm năm hai nghìn chín trăm bảy lăm đồng ) thu giữ của bị cáo để đảm bảo thi hành án [(Số tiền này hiện gửi tại tài khoản chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình ( nay là thành phố H) tỉnh Ninh Bình theo ủy nhiệm chi ngày 18/12/2024)]
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước chiếc điện thoại Iphone 14 Promax thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn H (Chi tiết chiếc điện thoại theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/12/2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố N và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).
- Buộc bị cáo phải trả lại số tiền mà bị cáo đã thu lời bất chính cho những người vay với tổng số tiền là 79.583.096 đồng (Bảy mươi chín triệu năm trăm tám ba nghìn không trăm chín sáu đồng). Cụ thể:
- Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm, có mặt bị cáo, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
11
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án Dân sự
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Dương Thị Phương |
12
Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 13/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 07/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo là người không có giấy phép kinh doanh trong lĩnh vực cho vay, cấp tín dụng nhưng Hào đã cho nhiều người vay tiền với mức lãi suất hơn 5 lần so với mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, nhằm thu lợi bất chính. Trong khoảng thời gian từ tháng 3 năm 2023 đến tháng 4 năm 2024, trên địa bàn thành phố Ninh Bình ( nay là thành phố Hoa Lư) tỉnh Ninh Bình, Nguyễn Văn Hào đã cho các chị Nguyễn Thị Bích Thuỳ, Nguyễn Thị Quỳnh A và anh Lê Mạnh H vay tiền với lãi suất với lãi suất đều là 3.000 đồng hoặc 4.000 đồng/01triệu đồng/01ngày, tương đương mức lãi suất 109,5%/năm hoặc 146%/năm, gấp hơn năm lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền lãi Hào đã thu của anh Hà, chị Thuỳ, chị Quỳnh Anh là 96.461.995 đồng, trong đó số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự Hào được hưởng là 16.878.899 đồng, số tiền H đã thu lợi bất chính là 79.583.096 đồng. Chị Nguyễn Thị Bích Th đã trả cho bị cáo 50.000.000 đồng tiền vay; các anh, chị: Nguyễn Thị Quỳnh A, Nguyễn Thị Bích Th và anh Lê Mạnh H còn nợ bị cáo Nguyễn Văn H tổng số tiền vay là 136.000.000 đồng.
