|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 07/2025/HNGĐ-PT Ngày: 13/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hải
- Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hải Minh – Bà Thái Thị Hồng Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 25/2024/TLPT-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 10/7/2024 của Tòa án Nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 38/2024/QĐXXPT-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Đoàn Hồng Q, sinh năm 1987; địa chỉ: xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Có mặt
- Bị đơn: Chị Cao Thị K, sinh năm 1992; địa chỉ: xóm B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Có mặt
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1986. Công tác tại Công ty TNHH L; địa chỉ: B P, phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt
*Người kháng cáo: bị đơn chị Cao Thị K
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 10/7/2024 của Tòa án Nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An thì vụ án có nội dung như sau:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 11 năm 2023, được bổ sung tại các bản tự khai ngày 09/01/2024, nguyên đơn là anh Đoàn Hồng Q trình bày:
- Về tình cảm: anh Q và chị Cao Thị K đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 20/01/2020, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện D, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân có tìm hiểu, tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống tình cảm đến năm 2021 xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là không hợp tính cách của nhau nên trong cuộc sống vợ chồng thường xuyên cãi vã và thiếu tôn trọng nhau trong cuộc sống, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng nghiêm trọng. Đến tháng 5 năm 2023, vợ chồng sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ tình cảm vợ chồng. Nay anh Q xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh Q đề nghị Tòa án giải quyết cho anh Q được ly hôn với chị Cao Thị K.
- Về con chung: Vợ chồng có 2 con chung là Đoàn Văn T1, sinh ngày 10/5/2020 và cháu Đoàn Kim N sinh ngày 2/9/2021. Nay Ly hôn anh Q có nguyện vọng xin được trực tiếp hai con và không yêu cầu chị Cao Thị K cấp dưỡng nuôi con chung.
- Tài sản chung và nợ: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại các bản tự khai, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn chị Cao Thị K trình bày:
- Về tình cảm: Chị Cao Thị K thống nhất như ý kiến trình bày anh Đoàn Hồng Q trình bày về thời gian, điều kiện đăng ký kết hôn. Chị K kết hôn với anh Q trên cơ sở có tìm hiểu, tự nguyện, không bị ai ép buộc. Trong quá trình chung sống đến năm 2021, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, sống chung với nhau đến tháng 5 năm 2023 thì chị K không sống chung với anh Q nữa, vợ chồng sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ tình cảm. Nay anh Q làm đơn xin ly hôn chị K xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn.
- Về con chung: Chị K thống nhất vợ chồng có 2 con chung như anh Quân trình bày là Đoàn Văn T1, sinh ngày 10/5/2020 và cháu Đoàn Kim N sinh ngày 2/9/2021. Nay Ly hôn chị K có nguyện vọng xin được nuôi cả hai con và không yêu cầu anh Đoàn Hồng Q cấp dưỡng nuôi con cùng với chị K.
- Tài sản chung và nợ: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Với nội dung trên, Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 10/7/2024 của Tòa án Nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, các điều 35, 39, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Căn cứ khoản 1 điều 51, điều 55; điều 57, điều 58, điều 81, điều 82, điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Tuyên xử:
- Quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Đoàn Hồng Q và chị Cao Thị K.
- Về con chung: Giao con chung Đoàn Văn T1, sinh ngày 10/5/2020 cho anh Đoàn Hồng Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành. Giao con chung Đoàn Kim N sinh ngày 21/9/2021 cho chị Cao Thị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Đoàn Hồng Q và chị Cao Thị K.
Anh Đoàn Hồng Q và chị Cao Thị K có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại Khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra bản án còn tuyên án phí và quyền kháng cáo của các đương sự trong vụ án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu nhận được đơn kháng cáo của bị đơn chị Cao Thị K, kháng cáo Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 10/7/2024 của Tòa án Nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An với lý do chị không đồng ý với quyết định phần con chung của bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho chị được trực tiếp nuôi hai con chung.
Tại phiên tòa phúc thẩm, chị K giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Anh Đoàn Hồng Q không chấp nhận nội dung kháng cáo của chị K. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Nghệ An:
- Về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng: Trong quá trình thụ lý vụ án đến khi xét xử phúc thẩm, Thẩm phán được phân công đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng trình tự, thủ tục phiên tòa. Người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về thủ tục kháng cáo: Bị đơn chị Cao Thị K kháng cáo trong thời hạn luật định, có nộp tiền tạm ứng án phí nên được Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý, giải quyết vụ án là đúng pháp luật.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn chị Cao Thị K, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng và ý kiến Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm. Xét kháng cáo của chị Cao Thị K, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo ngày 10/7/2024 của chị Cao Thị K làm trong hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí. Đơn kháng cáo hợp lệ, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý vụ án là đúng quy định pháp luật.
[2] Xét nội dung kháng cáo của chị Cao Thị K:
Anh Q và chị K có 02 con chung là Đoàn Văn T1, sinh ngày 10/5/2020 và cháu Đoàn Kim N sinh ngày 21/9/2021.
Hiện nay anh Q đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đoàn Văn T1, chị K đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đoàn Kim N. Cả anh Q và chị K đều có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 con cho đến khi trưởng thành và không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Xét nguyện vọng được nuôi con của anh Q và chị K là nguyện vọng chính đáng của người bố, người mẹ. Tuy nhiên, việc nuôi dưỡng các con chung sau khi ly hôn phải dựa trên cơ sở lợi ích mọi mặt của các cháu, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần, xem xét đảm bảo cho các con chung có điều kiện sống ổn định như hiện nay.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Về điều kiện kinh tế, nghề ngiệp: Anh Đoàn Hồng Q và chị Cao Thị K đều có địa chỉ cư trú rõ ràng, có nơi ở ổn định, cả hai đều làm nghề lao động tự do, có công việc và thu nhập kinh tế nên cả anh Q và chị K đều đủ các điều kiện cơ sở vật chất để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con chung. Không ai bị hạn chế quyền làm bố, làm mẹ và việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Nên cả anh Q và chị K đều đủ điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.
Cháu Đoàn Văn T1 đang ở với bố và ông bà nội là tại xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, anh Q làm nghề cung cấp các dịch vụ nội thất, có thu nhập kinh tế ổn định, mức lương bình quân khoảng 10 triệu đồng/ tháng, hiện đang sinh sống cùng bố mẹ đẻ của anh Q là ông Đoàn Văn  và bà Võ Thị X, nhà ở của ông Đoàn Văn  và bà Võ Thị X xây dựng khang trang, sạch sẽ, cháu T1 hiện đang học lớp 3 tuổi trường mần non xã D, được bố và ông bà nội yêu thương, chăm sóc, điều kiện sinh hoạt và học tập đầy đủ.
Cháu Đoàn Kim N hiện đang sống cùng mẹ là Cao Thị K tại xóm B, xã D, chị K đã thực hiện các thủ tục đăng kí tạm trú tại chính quyền địa phương và cho cháu đi học tại trường mầm non xã D, chị K là nhân viên bán hàng, thu nhập ổn định, bình quân 5 triệu đồng/ tháng, có thời gian chăm sóc con, ngoài ra còn có sự hỗ trợ của mẹ đẻ chị K. Mặt khác, cháu N đang còn nhỏ nên cần sự chăm sóc của mẹ.
Các cháu đã quen thuộc với môi trường sống hiện tại, để đảm bảo điều kiện phát triển tốt nhất cho các cháu, tránh gây sự xáo trộn, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của các cháu, đồng thời giảm bớt áp lực kinh tế đối với việc nuôi 02 con chung cho các bên đương sự và cũng tạo điều kiện cho anh Q, chị K thực hiện trách nhiệm của một người bố, người mẹ đối với các con của mình. Vì vậy, cần tiếp tục giao cháu T1 cho anh Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành. Giao cháu N cho chị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành là phù hợp.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị đơn chị Cao Thị K. Cần giữ nguyên nội dung quyết định bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu về phần con chung.
[3] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên chị Cao Thị K phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Không chấp nhận kháng cáo của chị Cao Thị K, giữ nguyên nội dung quyết định bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An về phần con chung.
Căn cứ vào các điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
- Về con chung:
Giao con chung Đoàn Văn T1, sinh ngày 10/5/2020 cho anh Đoàn Hồng Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành. Giao con chung Đoàn Kim N sinh ngày 21/9/2021 cho chị Cao Thị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Đoàn Hồng Q và chị Cao Thị K.
Anh Đoàn Hồng Q và chị Cao Thị K có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại Khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về án phí phúc thẩm: Chị Cao Thị K phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị K đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011539 ngày 18 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Mỹ Hải |
Bản án số 07/2025/HNGĐ-PT ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hôn nhân gia đình - tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 07/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Hôn nhân gia đình - Tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp nuôi con khi ly hôn Đoàn Hồng Q- Cao Thị K
