TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 07/2025/DS-ST Ngày 13-02-2025 V/v tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thành Đô
Ông Đồng Văn Diện
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Quý Đôn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh- Kiểm sát viên
Ngày 13 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 156/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 218/2025/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2025/QĐST-DS ngày 24/01/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Đặng Văn T, sinh năm 1990 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố L, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Anh Vương Quốc P, sinh năm 1977 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lưu Ngọc H, sinh năm 1986 (có đơn xin vắng mặt)
- Chị Trần Thị L, sinh năm 1987 (có đơn xin vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Anh Đoàn Văn T1, sinh năm 1980 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên. - Chị Chu Thị H1, sinh năm 1995 ( có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố L, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn khởi kiện và các bản tự khai tiếp theo nguyên đơn anh Đặng Văn T trình bày: Ngày 02/03/2023 anh Vương Quốc P mang chiếc xe ô tô Huyndai i10 màu bạc, biển kiểm soát 89A-04176, đăng ký xe mang tên ông Đoàn Văn T1 đến cửa hàng của anh để bán. Sau khi kiểm tra giấy tờ xe anh có hỏi anh P về nguồn gốc của chiếc xe, anh P trả lời chiếc xe trên anh P mua lại của người khác do không có nhu cầu sử dụng nên anh P muốn bán lại. Sau khi thống nhất thỏa thuận, hai bên đã lập hợp đồng (Giấy bán xe ô tô) ngày 02/3/2023 với giá là 240.000.000 đồng. Ngay sau khi ký giấy bán xe, anh đã chuyển số tiền 200.000.000 đồng từ tài khoản cá nhân của anh đến số tài khoản 0964770256 của anh Vương Quốc P mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q1. Số tiền 40.000.000 đồng anh đã đưa bằng tiền mặt trả cho anh P, khi giao tiền cả hai không làm giấy tờ gì. Anh không biết chiếc xe là tang vật trong vụ án hình sự, nên đã đồng ý mua của anh P.
Ngày 08/03/2023, anh đã bán lại chiếc xe ô tô trên cho anh Lưu Ngọc H và chị Trần Thị L với giá 235.000.000 đồng. Sau khi hoàn tất thủ tục mua bán, anh H mang xe ô tô trên đi rút hồ sơ để sang tên, thì bị Công an thị xã M, tỉnh Hưng Yên tạm giữ giấy tờ và xe ô tô trên, vì chiếc xe là tang vật trong một vụ án hình sự. Ngay sau khi sự việc xảy ra anh H đã thông báo cho anh biết, anh đã tự nguyện bồi thường cho vợ chồng anh H một chiếc xe ô tô khác, giữa anh và vợ chồng anh H không có tranh chấp gì. Anh được biết chiếc xe ô tô trên Công an thị xã M, tỉnh Hưng Yên đã trả lại cho ông Đoàn Văn T1 là bị hại trong vụ án hình sự. Anh đã liên hệ với anh P để yêu cầu giải quyết nhưng phía anh P không hợp tác, từ đó anh có đòi tiền nhiều lần nhưng anh P không trả tiền cho anh.
Nay anh đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng (Giấy bán xe ô tô) ngày 02/03/2023 đối với chiếc xe ô tô Huyndai i10, biển kiểm soát 89A-04176, đăng ký xe mang tên Đoàn Văn T1 giữa bên mua anh Đặng Văn T với bên bán anh Vương Quốc P là vô hiệu. Buộc anh Vương Quốc P phải hoàn trả cho anh số tiền 240.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án ngày 23/01/2025 phía anh T có văn bản xin thay đổi lời khai, chỉ yêu cầu anh P trả lại số tiền mua xe ô tô là 200.000.000 đồng bằng số tiền mà anh T đã chuyển khoản cho anh P.
Tại phiên tòa anh Đặng Văn T có đơn vẫn giữ nguyên quan điểm trên và xin xét xử vắng mặt.
*Tại biên bản lấy lời khai các lời khai tiếp theo bị đơn anh Vương Quốc P trình bày: Anh P xác nhận một phần lời trình bày của anh Đặng Văn T về việc mua bán xe ô tô Huyndai i10 màu bạc, biển kiểm soát 89A-04176, đăng ký xe mang tên Đoàn Văn T1 giữa anh và anh T là đúng. Hai bên thỏa thuận giá bán chiếc xe là 200.000.000 đồng, thanh toán bằng hình thức chuyển tiền từ tài khoản cá nhân của anh T sang tài khoản cá nhân của anh. Anh T đã ghi vào hợp đồng mua bán xe với số tiền theo như thỏa thuận là 200.000.000 đồng. Tại thời điểm lập giấy mua bán xe không có nội dung nào bị tẩy xóa, riêng có phần số tiền bằng chữ là để trống chưa viết. Do tin tưởng nên anh chỉ để ý phần số tiền bằng số là 200.000.000 đồng nên ký vào giấy mua bán xe ô tô.
Đối với lời khai anh T trình bày giá mua bán xe ô tô là 240.000.000 đồng là không đúng. Ngoài số tiền 200.000.000 đồng anh đã nhận của anh T bằng hình thức chuyển khoản thì giữa anh và anh T không giao nhận bất kỳ khoản tiền nào khác, anh T khai có đưa cho anh 40.000.000 đồng tiền mặt là không đúng. Việc mua bán xe ô tô chỉ có hai người, anh có yêu cầu anh T cho anh một bản giấy mua bán xe ô tô nhưng anh T không đồng ý.
Đối với giấy mua bán xe ô tô anh T nộp cho Tòa án có nội dung tẩy xóa từ 200.000.000 đồng thành 240.000.000 đồng và phần số tiền bằng chữ “Hai trăm bốn mươi triệu đồng chẵn” là do anh T tẩy xóa, viết thêm vào khi hai bên phát sinh tranh chấp. Anh đề nghị trưng cầu giám định về thời gian chữ viết “Hai trăm bốn mươi triệu đồng chẵn”, phần “240.000.000 đồng tẩy xóa” có được viết cùng thời điểm với các nội dung khác trên giấy mua bán xe ô tô ngày 02/03/2023 giữa anh và anh T không. Nhưng anh không đồng ý nộp tiền chi phí giám định theo yêu cầu của Tòa án. Anh T đề nghị Tòa án tuyên hợp đồng (giấy bán xe ô tô) ngày 02/03/2023 giữa bên mua anh Đặng Văn T với bên bán anh Vương Quốc P là vô hiệu do chiếc xe mà hai bên thực hiện giao dịch mua bán là tang vật trong vụ án hình sự, anh đồng ý. Đối với việc anh T yêu cầu buộc anh phải hoàn trả số tiền hai bên mua bán xe, anh chỉ đồng ý trả cho anh T số tiền 200.000.000 đồng anh đã nhận bằng hình thức chuyển khoản, nhưng không có tiền để trả ngay mà khi nào đòi được tiền của anh D, anh mới có tiền trả cho anh T.
Tại phiên tòa anh Vương Quốc P được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên anh Lưu Ngọc H và chị Trần Thị L thống nhất quan điểm trình bày: Ngày 08/03/2023 anh H đến cửa hàng xe ô tô của anh Đặng Văn T để tìm mua xe ô tô. Qua trao đổi, anh thống nhất mua chiếc xe ô tô Huyndai i10 màu bạc, biển kiểm soát 89A-04176, đăng ký xe mang tên Đoàn Văn T1 tại cửa hàng của anh T với giá 235.000.000 đồng. Trước khi mua xe anh T có cho anh xem giấy đăng ký xe và chứng minh thư nhân dân của ông Đoàn Văn T1. Anh có hỏi về nguồn gốc chiếc xe ô tô, anh T đã cam kết sẽ rút hồ sơ gốc và sang tên được xe cho anh, nên anh đã đồng ý mua. Khoảng một tháng sau anh đi làm thủ tục rút hồ sơ để sang tên đối với chiếc xe ô tô trên thì bị Công an thị xã M, tỉnh Hưng Yên tạm giữ xe và giấy tờ xe, do chiếc xe là tang vật trong vụ án hình sự. Ngay sau khi sự việc xảy ra, vợ chồng anh đã liên hệ với anh T để yêu cầu bồi thường. Tháng 5/2023, anh T đã đổi lại cho anh chị bằng một chiếc xe ô tô khác, anh chị đã bàn giao lại các giấy tờ liên quan đến việc tạm giữ xe của Công an thị xã M, tỉnh Hưng Yên cho anh T. Hiện nay giữa anh chị và anh T không còn tranh chấp gì liên quan đến chiếc xe ô tô trên. Nay anh T khởi kiện đối với anh P, anh chị đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Do không liên quan gì anh chị xin được vắng mặt tất cả quá trình tham gia tố tụng.
Tại phiên tòa anh Lưu Ngọc H, chị Trần Thị L có đơn giữ nguyên quan điểm trên và xin xét xử vắng mặt.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên anh Đoàn Văn T1 trình bày: Ngày 19/02/2022 tại số nhà C, đường Đ, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên anh có cho anh Trần Sỹ M thuê một chiếc xe ô tô con 05 chỗ, màu bạc, số máy 89A04176, số khung 51CBFM150686, số loại Grand, năm sản xuất 2014 theo hợp đồng thuê xe số 146/VSG- Mỹ/HĐCTX. Đến khi hết thời gian cho thuê xe như trong hợp đồng, nhưng anh M đã không mang xe ô tô trên để trả lại cho anh để kết thúc hợp đồng, anh đã nhiều lần liên lạc đến nhà riêng của anh M để tìm nhưng không gặp và không tìm được chiếc xe ô tô trên. Ngày 12/01/2023 anh đã đến Công an thị xã M để trình báo sự việc trên. Ngày 20/7/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã M đã trả lại chiếc xe ô tô trên cho anh. Anh cam kết chiếc xe ô tô là tài sản hợp pháp của anh, anh hoàn toàn không biết chiếc xe ô tô này được mua bán chuyển nhượng trong thời gian anh cho anh S thuê xe. Vì điều kiện công việc ở xa anh xin vắng mặt tất cả quá trình tố tụng tại Tòa án.
Tại phiên tòa anh Đoàn Văn T1 có đơn vẫn giữ nguyên quan điểm trên và xin xét xử vắng mặt.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Chu Thị H1 trình bày: Chị là vợ của anh Đặng Văn T. Việc anh T mua chiếc xe ô tô từ anh Vương Quốc P chị không được biết. Số tiền anh T dùng để mua xe là tiền riêng của anh T, không liên quan đến chị. Nay anh T đề nghị Tòa án tuyên hợp đồng (Giấy bán xe ô tô) ngày 02/03/2023 giữa bên mua anh Đặng Văn T với bên bán anh Vương Quốc P là vô hiệu và đề nghị giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Chị đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Do không liên quan đến vụ án chị đề nghị Tòa án không triệu tập chị tham gia tố tụng.
Tại phiên tòa chị Chu Thị H1 có đơn xin xét xử vắng mặt.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa nguyên đơn anh Đặng Văn T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lưu Ngọc H, chị Trần Thị L, anh Đoàn Văn T1 và chị Chu Thị H1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Vương Quốc P được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 122, Điều 123, Điều 131, Điều 430, Điều 431, Điều 434, Điều 440, Điều 443, Điều 444, Điều 357; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đặng Văn T.
Tuyên bố hợp đồng (Giấy bán xe ô tô) ngày 02/03/2023 đối với chiếc xe ô tô Huyndai i10, biển kiểm soát 89A-04176, đăng ký xe mang tên Đoàn Văn T1 giữa bên mua anh Đặng Văn T với bên bán anh Vương Quốc P là vô hiệu.
Buộc anh Vương Quốc P phải hoàn trả cho anh Đặng Văn T số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất về nghĩa vụ chậm trả tiền, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện anh Đặng Văn T đề nghị Tòa án tuyên hợp đồng (Giấy bán xe ô tô) ngày 02/03/2023 đối với chiếc xe ô tô Huyndai i10, biển kiểm soát 89A-04176, đăng ký xe mang tên Đoàn Văn T1 giữa bên mua anh Đặng Văn T với bên bán anh Vương Quốc P là vô hiệu. Buộc anh Vương Quốc P phải hoàn trả cho anh Đặng Văn T số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). HĐXX xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”. Anh Vương Quốc P có địa chỉ ở thôn C, xã H, huyện L, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 430 của Bộ luật dân sự năm 2015
-Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa nguyên đơn anh Đặng Văn T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lưu Ngọc H, chị Trần Thị L, anh Đoàn Văn T1 và chị Chu Thị H1 đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Vương Q phong được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần hai không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự trong vụ án theo thủ tục chung.
[2]Về nội dung: Đối với yêu cầu khởi kiện của anh Đặng Văn T, Hội đồng xét xử xét thấy:
Ngày 02/03/2023 giữa bên bán anh Vương Quốc P với bên mua anh Đặng Văn T lập hợp đồng (Giấy bán xe ô tô) đối với chiếc xe ô tô Huyndai i10, biển kiểm soát 89A-04176, đăng ký xe mang tên Đoàn Văn T1. Giá ghi bằng số có nội dung tẩy xóa từ 200.000.000 đồng thành 240.000.000 đồng, nhưng phần số tiền bằng chữ ghi “Hai trăm bốn mươi triệu đồng chẵn”.
Phía anh P cho rằng giấy bán xe ô tô anh T nộp cho Tòa án có nội dung tẩy xóa từ 200.000.000 đồng thành 240.000.000 đồng và phần số tiền bằng chữ “Hai trăm bốn mươi triệu đồng chẵn” anh P cho rằng do anh T tẩy xóa và viết thêm vào khi hai bên phát sinh tranh chấp. Anh P đề nghị trưng cầu giám định về thời gian các chữ anh T viết thêm và việc tẩy xóa. Tuy nhiên anh P không đồng ý nộp tiền chi phí giám định theo thông báo yêu cầu của Tòa án.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã cho các bên tiến hành đối chất, nhưng các bên vẫn giữ nguyên quan điểm. Phía anh P không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào về việc hai bên thỏa thuận giá mua bán xe ô tô là 200.000.000 đồng như lời khai của anh P. Phía anh T không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào về việc đã đưa số tiền mặt là 40.000.000 đồng cho anh P.
Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định số tiền hai bên thống nhất thỏa thuận mua bán xe là 240.000.000 đồng thể hiện được viết bằng số và bằng chữ. Mặc dù chữ số 0 bị tẩy xóa thành chữ số 4 (tức số tiền 200.000.000 đồng thành 240.000.000 đồng), nhưng phần ghi bằng chữ thể hiện là “Hai trăm bốn mươi triệu đồng” trong giấy bán xe ngày 02/3/2023 mà hai bên giao dịch.
Thực hiện hợp đồng mua bán, anh T đã chuyển số tiền 200.000.000 đồng từ tài khoản cá nhân của anh T đến số tài khoản 0964770256 của anh Vương Quốc P mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1. Ngoài ra phía anh T cho rằng anh còn đưa cho anh P số tiền 40.000.000 đồng bằng tiền mặt nhưng không viết giấy tờ. Hai bên bàn giao xe và giấy tờ cho nhau.
HĐXX xét thấy, giao dịch dân sự mua bán tài sản là chiếc xe ô tô trên được xác lập giữa hai bên theo quy định tại Điều 116 của Bộ luật dân sự. Khi tham gia giao dịch dân sự anh T và anh P có đủ năng lực hành vi dân sự, việc giao dịch là tự nguyện. Tuy nhiên, đối tượng giao dịch tài sản hai bên đem ra mua bán là chiếc xe ô tô thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Đoàn Văn T1 bị hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong vụ án hình sự do Công an thị xã M, thụ lý giải quyết. Nên việc giao dịch mua bán xe ô tô trên giữa anh T và anh P là vi phạm điều cấm của pháp luật.
Xét thấy việc anh P đã bán tài sản là xe ô tô trên cho anh T chỉ lập giấy bán xe viết tay trong khi xe ô tô là tài sản phải đăng ký, hợp đồng mua bán phải được công chứng, chứng thực. Mặt khác, anh P không phải là chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe ô tô trên là không đủ điều kiện về việc chuyển nhượng. Hình thức của giao dịch trên vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 119 của Bộ luật dân sự.
Xét nội dung và hình thức của giao dịch mua bán xe ô tô ngày 02/03/2023 giữa mua anh Đặng Văn T với bên bán anh Vương Quốc P vi phạm điều cấm của pháp luật tài sản hai bên đem ra mua bán là chiếc xe ô tô thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Đoàn Văn T1 bị hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong vụ án hình sự quy định tại Điều 123 của Bộ luật dân sự. Nay anh T đề nghị Tòa án tuyên hợp đồng (Giấy bán xe ô tô) ngày 02/03/2023 đối với chiếc xe ô tô Huyndai i10, biển kiểm soát 89A-04176, đăng ký xe mang tên Đoàn Văn T1 giữa bên mua anh Đặng Văn T với bên bán anh Vương Quốc P là vô hiệu là có căn cứ. Khi giao dịch bị tuyên vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Nay anh T đề nghị buộc anh Vương Quốc P phải hoàn trả cho anh số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 117, Điều 122, Điều 123, Điều 131, Điều 430, Điều 434, Điều 440 của Bộ luật dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, phía anh T trình bày do anh P cam kết về nguồn gốc xe ô tô và việc rút được giấy tờ gốc xe ô tô trên nên anh T mới đồng ý mua xe. Phía anh P cho rằng khi mua xe anh T biết rõ anh không phải là chủ sở hữu hợp pháp của xe ô tô trên, nhưng vẫn đồng ý mua nên anh P không có trách nhiệm hoàn trả tiền cho anh T, khi xe bị Công an thu giữ trả cho bị hại trong vụ án hình sự. Anh P cho rằng xe anh mua lại của ông D, nên anh chỉ đồng ý trả tiền cho anh T khi anh đòi được tiền của ông D. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án anh P không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào liên quan đến việc mua bán chiếc xe ô tô trên giữa anh P và ông D như lời anh P trình bày, nên không có căn cứ xem xét giải quyết. Khi nào anh P cung cấp được tài liệu chứng cứ liên quan đến việc mua bán chiếc xe ô tô trên giữa anh P và ông D, Tòa án sẽ xem xét giải quyết trong một vụ án khác.
Đối với việc mua bán chiếc xe ô tô trên giữa anh Đặng Văn T với anh Lưu Ngọc H và chị Trần Thị L, sau khi anh H bị Công an thị xã M giữ xe ô tô và giấy tờ xe, hiện nay xe ô tô và giấy tờ Công an thị xã M, tỉnh Hưng Yên đã trã lại cho ông Đoàn Văn T1. Phía anh T đã tự thỏa thuận bồi thường bằng chiếc xe ô tô khác cho anh H, chị L, các bên đều không có ý kiến đề nghị gì, do vậy HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
[3] Về lãi suất phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do yêu cầu khởi kiện của anh T được chấp nhận. Nên anh Đặng Văn T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả anh Đặng Văn T số tiền 6.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007835 ngày 08/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.
Buộc anh Vương Quốc P phải chịu 10.000.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[6] Về ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 122, Điều 123, Điều 131, Điều 430, Điều 431, Điều 434, Điều 440, Điều 443, Điều 444, Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đặng Văn T.
Tuyên bố hợp đồng (Giấy bán xe ô tô) ngày 02/03/2023 đối với chiếc xe ô tô Huyndai i10, biển kiểm soát 89A-04176, đăng ký xe mang tên Đoàn Văn T1 giữa bên mua anh Đặng Văn T với bên bán anh Vương Quốc P là vô hiệu.
Buộc anh Vương Quốc P phải hoàn trả cho anh Đặng Văn T số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2.Về án phí: Anh Đặng Văn T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả anh Đặng Văn T số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007835 ngày 08/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.
Buộc anh Vương Quốc P phải chịu 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Quỳnh Hoa |
Bản án số 07/2025/DS-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Số bản án: 07/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: anh T, anh P
