Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN TRE

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 12/02/2025

V/v: “tranh chấp ly hôn, nuôi con

khi ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Như

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hiền

Bà Nguyễn Thị Bé Em

-Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoa Hạ - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham

gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ấm - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 328/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02A/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 22/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lao Thị Hồng X, sinh năm 1989;

Cư trú: Số B, ấp A, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

Địa chỉ liên hệ: Số B, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Phan Kim T, sinh năm 1980;

Cư trú: Số B, ấp A, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

(Bà X có đề nghị giải quyết vắng mặt; ông T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 15/8/2024, bản tự khai, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Lao Thị Hồng X trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: bà và ông Nguyễn Phan Kim T đăng ký kết hôn vào ngày 20/6/2018 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre. Hôn nhân do tự nguyện tìm hiểu. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại địa chỉ B ấp A, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2023, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cãi nhau về việc ông T nghiện game, không lo làm ăn, không quan tâm chăm sóc vợ con. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2023 đến nay. Nay, bà xác định không còn tình cảm với ông T nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T.

Về con chung: bà và ông T có với nhau 01 con chung tên Nguyễn Nhất N, sinh ngày 26/11/2019. Hiện nay, cháu N đang sống chung với bà. Sau khi ly hôn, bà X yêu cầu trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: bà X khai không có.

Về nợ chung: bà X khai không có.

Do bận công việc nên bà X đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt bà trong quá trình giải quyết toàn bộ vụ án.

Bị đơn ông Nguyễn Phan Kim T:

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Phan Kim T, tuy nhiên ông T vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: căn cứ các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, đề nghị tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà X; Về con chung giao cháu N cho bà X trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận việc bà X không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung, bà X khai không có nên không xem xét; Án phí thực hiện theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự và phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: căn cứ đơn khởi kiện của bà Lao Thị Hồng X đề ngày 15/8/2024 (BL03) cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc tranh chấp ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo các điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn đây là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 3 điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Bị đơn ông Nguyễn Phan Kim T có nơi cư trú tại B ấp A, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Đối chiếu điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre có thẩm quyền giải quyết vụ án.

Về việc tham gia phiên tòa của đương sự: tại đơn đề nghị giải quyết vắng mặt ngày 15/8/2024 (BL10), bà X có đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Phan Kim T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng ông T vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà X và ông T.

[2] Về quan hệ hôn nhân: bà X và ông T đăng ký kết hôn vào ngày 2018 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre. Việc đăng ký kết hôn giữa bà X và ông T là hoàn toàn tự nguyện, không bên nào bị ép buộc, đã tuân thủ đúng theo quy định pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Quá trình giải quyết vụ án, bà X yêu cầu ly hôn với ông T do ông T nghiện game, không lo làm ăn, không quan tâm chăm sóc vợ con, bà không còn tình cảm và không thể hàn gắn để tiếp tục chung sống với ông T. Để có cơ sở giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông T nhiều lần đến Tòa án nhằm tạo điều kiện cho ông và bà X hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, ông T vắng mặt cũng như không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu ly hôn của bà X, như vậy ông T có ý thức bỏ mặt việc bà X khởi kiện yêu cầu ly hôn và không có ý định hòa giải đoàn tụ. Bên cạnh đó, bà X trình bày vợ chồng đã ly thân từ năm 2023 đến nay, thời gian ly thân thì bà sinh sống tại huyện C còn ông T sinh sống tại thành phố B, thời gian ly thân mỗi người đều có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà X và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà X yêu cầu ly hôn với ông T là có căn cứ nên được chấp nhận.

[3] Về con chung: bà X và ông T có với nhau 01 (một) con chung tên Nguyễn Nhất N, sinh ngày 26/11/2019. Xét thấy cháu N hiện do bà X trực tiếp nuôi dưỡng, phía ông T cũng không ý kiến phản đối về việc bà X yêu cầu trực tiếp nuôi con chung. Từ các phân tích trên, đối chiếu quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xét thấy để con chung phát triển ổn định, toàn diện cần giao cháu N cho bà X trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Ghi nhận sự tự nguyện của bà X tạm thời không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: bà X khai không có nên không xem xét.

[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí: căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà X có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch với số tiền 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

  • - Các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Khoản 3 Điều 4, khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;
  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lao Thị Hồng X về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” với bị đơn ông Nguyễn Phan Kim T, cụ thể như sau:

1.1. Về quan hệ hôn nhân: bà Lao Thị Hồng X được ly hôn với ông Nguyễn Phan Kim T.

1.2. Về con chung:

Giao cháu Nguyễn Nhất N, sinh ngày 26/11/2019 cho bà Lao Thị Hồng X trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lao Thị Hồng X tạm thời không yêu cầu ông Nguyễn Phan Kim T cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên, không ai có quyền ngăn cản. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.

1.3. Về tài sản chung: bà Lao Thị Hồng X khai không có nên không xem xét.

1.4. Các vấn đề khác: bà Lao Thị Hồng X khai không có nợ chung nên không xem xét.

2. Án phí: bà Lao Thị Hồng X có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch với số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002848 ngày 27/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre (bà X đã nộp xong).

3. Về quyền kháng cáo: bà Lao Thị Hồng X và ông Nguyễn Phan Kim T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Bến Tre (1b);
  • - TAND tỉnh Bến Tre (1b);
  • - CCTHADS thành phố Bến Tre (1b);
  • - UBND xã Phú Túc, huyện Châu Thành, tỉnh
  • Bến Tre - Số 48 ngày 20/6/2018 (1b);
  • - Các đương sự (2b);
  • - Lưu hồ sơ, VP (3b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Thị Thanh Như

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HNGĐ-ST ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE về tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 07/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger