|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2025/HS-ST
Ngày 10-02-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Luyến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bạn và bà Vũ Thị Linh
- Thư ký phiên toà: Bà Mạc Thị Thuỷ – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Doanh, bà Cao Thị Thu T - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hình sự thụ lý số 128/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025, đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Văn K, sinh ngày 16/8/2001 tại T, Hải Dương;
Nơi cư trú: KDC T, phường B, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C và bà Vương Thị L; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ ngày 19/9/2024, chuyển tạm giam ngày 22/9/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
-
Tạ Trung D, sinh ngày 15/10/2005 tại C, Hải Dương;
Nơi cư trú: Thôn C, xã B, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Sán Dìu; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Tạ Văn N và bà Phùng Thị T1; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ ngày 19/9/2024, chuyển tạm giam ngày 22/9/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
-
Nguyễn Văn M, sinh ngày 21/02/1990 tại C, Hải Dương.
Nơi cư trú: KDC T, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn V (Đã chết) và bà Đỗ Thị M1; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ ngày 19/9/2024, chuyển tạm giam ngày 22/9/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo K: Chị Phạm Thị T2, sinh năm 1990 – Luật sư thuộc đoàn luật sư tỉnh H thuộc Chi nhánh Văn phòng luật sư Tô Lịch
Địa chỉ: Số 226 Trần Hưng Đạo, phường Ngọc Châu, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Có mặt.
* Những người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Anh Chu Văn H, sinh năm 2006; Anh Nguyễn Trung D1, sinh năm 2004; Ông Bùi Tuấn K1, sinh năm 1960 - Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 17/9/2024, Nguyễn Văn M đến khu vực cánh đồng thuộc phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương gặp và mua của một người thanh niên (không rõ nhân thân, lý lịch) được 01 túi nilon ma túy với giá 500.000 đồng, mục đích để sử dụng nếu ai mua thì bán. Sau khi mua được ma túy M đã lấy trong túi nilon ra sử dụng một ít, còn lại cất giấu tại nhà.
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 18/9/2024, Nguyễn Văn K có nhu cầu sử dụng ma túy nên đến rủ Tạ Trung D ở phòng trọ khu dân cư Đ, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương sử dụng ma túy, D đồng ý và thống nhất K bỏ ra 500.000 đồng mua ma tuý còn D liên hệ mua ma túy. D mượn điện thoại di động, nhãn hiệu INFINIX, màu xanh của K gọi điện cho Nguyễn Văn M mua ma túy, M đồng ý và bảo D đi đến quán B ở địa chỉ khu dân cư T, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương để giao nhận ma túy. Sau đó K điện thoại cho Chu Văn H, sinh năm 2006, trú tại thôn L, xã B, thành phố C, tỉnh Hải Dương nhờ H đi xe mô tô (H mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu đen- bạc, biển số 34C1-325.86 của anh Phùng Đình Đ, trú tại khu dân cư N, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương) đến chở K, D đi mua ma túy (H không biết K, D nhờ chở đi mua ma túy). Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, H đến chở D, K đến quán Bi a gặp M thì M đọc số tài khoản của mình cho D, sau đó D bảo K chuyển 500.000 đồng vào số tài khoản của M. Nhận được tiền, M đi xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha, màu xanh- bạc, biển số 34C1-537.86 (xe mô tô Mạnh mượn của anh Đỗ Văn T3, sinh năm 2003; trú tại khu dân cư T, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương) và bảo D đi theo để nhận ma túy, D điều khiển xe mô tô chở H, K đi theo M đến khu vực đường K thuộc khu dân cư T, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương thì D bảo H, K đứng đợi còn D đi xe mô tô đến gần nhà M thì gặp M, M đưa cho D một túi nilon ma túy. Khi mua được ma túy, D quay lại đón H, K rồi chở về phòng trọ của mình thì H đi xe mô tô về. D đi ra phía sau phòng trọ lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy của mình để đó từ trước, gồm: 01chai nhựa màu trắng, trên có nắp chai màu đỏ được đục hai lỗ, một lỗ được gắn 01 coóng thủy tinh, một lỗ được gắn 01 ống hút nhựa màu xanh rồi đổ ma túy vừa mua vào bầu coóng thủy tinh và gọi K ra sử dụng; khi sử dụng D dùng bật lửa đốt nóng ma túy để cả hai lần lượt sử dụng, mỗi người sử dụng được bốn lần thì đi vào phòng trọ. Lúc này, K sử dụng điện thoại gọi rủ Nguyễn Trung D1, sinh năm 2004, trú tại thôn L, xã B, thành phố C, tỉnh Hải Dương đến phòng trọ chơi. Khoảng 10 phút sau Nguyễn Trung D1 đến phòng trọ thấy K, Tạ Trung D đang sử dụng ma túy thì tham gia sử dụng ma túy cùng; quá trình sử dụng ma túy K, Tạ Trung D thay nhau dùng bật lửa đốt nóng ma túy cho cả ba người sử dụng, mỗi người sử dụng được hai lần thì lại vào phòng trọ ngồi nói chuyện. Khoảng 23 giờ cùng ngày cả ba lại tiếp tục ra sử dụng ma túy K, Tạ Trung D lại thay nhau dùng bật lửa đốt nóng ma túy để cả ba người tiếp tục cùng sử dụng; Nguyễn Trung D1 sử dụng hai lần thì đi về (Nguyễn Trung D1 chỉ sử dụng ma tuý, không tham gia vào việc tổ chức sử dụng ma tuý), còn K, Tạ Trung D tiếp tục mỗi người sử dụng ba lần thì hết ma túy, Tạ Trung D cất bộ sử dụng ma túy vào chỗ cũ rồi cả hai vào phòng trọ nằm ngủ.
Khoảng 09 giờ ngày 19/9/2024, Công an thành phố C, tỉnh Hải Dương kiểm tra, phát hiện, lập biên bản thu giữ: Tại vị trí kẹp giữa đường ống nối téc nước với bờ tường bên trái phòng trọ của Tạ Trung D: 01 mảnh túi ni lông màu đen, kích thước (30x37) cm, được cuộn lại, bên trong chứa 01 nắp chai nhựa màu đỏ, được đục hai lỗ, một lỗ được cắm ống hút nhựa màu xanh, chiều dài 19 cm, một lỗ được cắm coóng thủy tinh, chiều dài 10 cm, phần bầu coóng bám dính chất cặn màu đen. Tại vị trí mặt đất ngay phía dưới chỗ kẹp mảnh túi ni lông: 01 vỏ chai nhựa, màu trắng, chiều cao 18 cm, đường kính mặt đáy 5,5 cm; tại túi quần bên trái Tạ Trung D đang mặc 01 bật lửa gas màu xanh, không có nhãn mác. Thu của K 01 điện thoại di động, nhãn hiệu INFINIX, màu xanh, số IMEI 1: 3574 1322 6204 760, số IMEI 2: 3574 1322 6204 778, bên trong lắp sim số: 0523.707.241; thu của M 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A17k, màu xanh, số IMEI 1: 8648 2106 0866 732; số IMEI 2: 8648 2106 0866 724, bên trong lắp sim số: 0362.893.126. Thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu đen- bạc, biển số 34C1- 325.86; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha, màu xanh- bạc, biển số 34C1- 537.86.
Kết luận giám định số: 405/KL-KTHS ngày 21/9/2024 của Phòng K2, Công an tỉnh H, kết luận: Chất rắn màu đen bám dính bên trong bầu coóng thủy tinh, được niêm phong trong phong bì thu giữ tại chỗ trọ của Tạ Trung D, gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine; lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng. H1 lại: 01 cóong thủy tinh, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định
Việc thu giữ đồ vật, tài liệu, xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã nhập kho vật chứng: 01 coóng thủy tinh màu trắng, chiều dài 10 cm; 01 chai nhựa màu trắng, nhãn mác có chữ “Fuzetea”, chiều cao 18 cm, đường kính mặt đáy 5,5 cm, phần nắp chai màu đỏ được đục hai lỗ; 01 ống hút bằng nhựa, màu xanh, chiều dài 19 cm; 01 bật lửa gas màu xanh, không có nhãn mác; 01 mảnh túi ni lông màu đen, kích thước (30x37) cm; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu INFINIX; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu đen- bạc, biển số 34C1-325.86 là tài sản hợp pháp của anh Phùng Đình Đ và chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha, màu xanh- bạc, biển số 34C1-537.86 là tài sản hợp pháp của anh Đỗ Văn T3, anh Đ, anh T3 không biết các đối tượng sử dụng xe để mua, bán ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại xe cho anh Đ, anh T3.
Tại bản Cáo trạng số 04/CT-VKS-CL ngày 31/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn K, Tạ Trung D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Văn M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị HĐXX:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn K, Tạ Trung D phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy", Nguyễn Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 38, Điều 17, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự:
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 07 năm 04 tháng đến 07 năm 10 tháng tù, thời hạn tù từ ngày tạm giữ 19/9/2024.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 38, Điều 17, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự:
+ Xử phạt bị cáo Tạ Trung D từ 07 năm 04 tháng đến 07 năm 10 tháng tù, thời hạn tù từ ngày tạm giữ 19/9/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 27 đến 30 tháng tù, thời hạn tù từ ngày tạm giữ 19/9/2024.
Về hình phạt bổ sung: không đề nghị áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật TTHS: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) coóng thủy tinh màu trắng, chiều dài 10 cm; 01 chai nhựa màu trắng, nhãn mác có chữ “Fuzetea”, chiều cao 18 cm, đường kính mặt đáy 5,5 cm, phần nắp chai màu đỏ được đục hai lỗ; 01 ống hút bằng nhựa, màu xanh, chiều dài 19 cm; 01 bật lửa gas màu xanh, không có nhãn mác; 01 mảnh túi ni lông màu đen, kích thước (30x37) cm; 01 sim số: 0523.707.241 và 01 sim số: 0362.893.126. Tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu INFINIX, màu xanh, số IMEI 1: 3574 1322 6204 760, số IMEI 2: 3574 1322 6204 778; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A17k, màu xanh, số IMEI 1: 8648 2106 0866 732; số IMEI 2: 8648 2106 0866 724. Kiến nghị doanh nghiệp viễn thông thu hồi 02 số thuê bao 0523.707.241 và 0362.893.126, đồng thời tịch thu số tiền hiện có trong tài khoản của số thuê bao di động trên để nộp vào ngân sách nhà nước. Truy thu của Nguyễn Văn M số tiền 500.000 đồng sung quỹ nhà nước.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật TTHS, Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội, buộc các bị cáo Nguyễn Văn K, Tạ Trung D, Nguyễn Văn M mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Người bào chữa của bị cáo K trình bày: Đồng ý với tội danh, điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã luận tội. Đề nghị HĐXX xem xét nhận thức hạn chế của bị cáo về tác hại của ma tuý, bị cáo sử dụng ma tuý lần đầu, chỉ tò mò, bản thân không nhằm mục đích đưa ma tuý vào cơ thể người khác, không tổ chức bài bản, mà rất giản đơn, không có sự phân công nhiệm vụ từ trước, nên chỉ là đồng phạm đơn giản. Bị cáo K ăn năn hối cải, ủng hộ quỹ người nghèo. Ngoài ra, bị cáo đã từng nhập ngũ, chấp hành tốt chủ trương chính sách pháp luật của Nhà nước, địa phương. Vì vậy, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 255, Điều 38, Điều 58 điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được giảm nhẹ nhất hình phạt.
Bị cáo K đồng ý với phần trình bày của người bào chữa, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Các bị cáo D, M đều thừa nhận hành vi vi phạm như nội dung bản cáo trạng và đồng ý với lời luận tội của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản vụ việc, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 18/9/2024, tại khu vực đường khu đô thị V thuộc khu dân cư T, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương Nguyễn Văn M có hành vi bán trái phép chất ma tuý loại Methamphetamine, với giá 500.000 đồng cho Tạ Trung D.
Khoảng 21 giờ ngày 18/9/2024, tại phòng trọ của Tạ Trung D ở khu dân cư Đ, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn K có hành vi khởi xướng, bố trí phương tiện, chuyển tiền để cho Tạ Trung D mua ma tuý, loại Methamphetamine; Tạ Trung D chuẩn bị địa điểm và bộ sử dụng ma túy để cho Nguyễn Văn K, Nguyễn Trung D1 và bản thân cùng sử dụng trái phép chất ma túy.
- [3] Các bị cáo K, D1 đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc chuẩn bị, cung cấp ma túy, dụng cụ để các bị cáo cùng sử dụng trái phép chất ma túy là những hành vi vi phạm, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt “đối với hai người trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
- [4] Hành vi của bị cáo M là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo M là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì để kiếm lời bất chính nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo M là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- [5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo K ủng hộ quỹ vì người nghèo năm 2024 nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
- [6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
- [7] Trong vụ án Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, K là người khởi xướng, bỏ tiền để mua ma túy, chuẩn bị phương tiện nên giữ vai trò thứ nhất; D1 là người là người chuẩn bị địa điểm, bộ D3 sử dụng ma túy và sử dụng số tài khoản của mình để chuyển tiền mua ma túy là người thực hành tích cực, giữ vai trò thứ hai. Căn cứ vào tính chất, vị trí, vai trò đồng phạm của từng bị cáo mà HĐXX sẽ có hình phạt tương xứng.
- [8] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh chính trị tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Việc tổ chức sử dụng ma túy, mua bán trái trép chất ma túy còn là mầm mống làm phát sinh một số loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng nặng nề cho sức khỏe của con người và kinh tế của gia đình người sử dụng nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, các bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa
- [9] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
-
[10] Về xử lý vật chứng:
- [10.1] 01 coóng thủy tinh; 01 chai nhựa, nhãn mác có chữ “Fuzetea”, chiều cao 18 cm, đường kính mặt đáy 5,5cm, phần nắp chai màu đỏ được đục hai lỗ; 01 ống hút bằng nhựa, màu xanh, chiều dài 19cm; 01 bật lửa gas màu xanh, không có nhãn mác; 01 mảnh túi ni lông màu đen, kích thước (30x37)cm - đều là công cụ sử dụng vào việc phạm tội và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định không có giá trị, nên cần tịch thu tiêu huỷ, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- [10.2] Đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu INFINIX màu xanh số IMEI 1: 357413226204760, số IMEI 2: 357413226204778, bên trong lắp sim Vietnammobie số seri: 89840509231412799694, số điện thoại: 0532.707.xxx, mặt kính trước có vết nứt ngang của K, máy đã qua sử dụng, số tiền trong sim tại thời điểm kiểm tra là 1.495đ; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A17k, số IMEI 1: 864821060866732, số IMEI 2: 864821060866724, bên trong lắp sim có số seri 123456789101112 số điện thoại: 0362.893.xxx (thuê bao trả sau) mặt kính có vết rạn, máy đã qua sử dụng - đều là công cụ sử dụng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước đối với 02 điện thoại và tịch thu tiêu huỷ sim điện thoại theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Kiến nghị Công ty cổ phần V2 thu hồi 02 số thuê bao 0532.707.241 và 0362.893.126, đồng thời tịch thu số tiền hiện có trong tài khoản số thuê bao trên.
- [10.3] Số tiền 500.000đ bị cáo M có được do bán ma tuý nên cần truy thu sung quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
-
[11] Các vấn đề khác:
- [11.1] Đối với người đàn ông bán ma túy cho M, quá trình điều tra không chứng minh được nhân thân, lý lịch nên không có căn cứ xử lý.
- [11.2] Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của K, Tạ Trung D, Nguyễn Trung D1, Nguyễn Văn M đã bị Công an Thành phố C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là phù hợp.
- [11.3] Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu đen- bạc, biển số 34C1-325.86 là tài sản hợp pháp của anh Phùng Đình Đ và chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha, màu xanh- bạc, biển số 34C1-537.86 là tài sản hợp pháp của anh Đỗ Văn T3, anh Đ, anh T3 không biết các đối tượng sử dụng xe để mua, bán ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại xe cho anh Đ, anh T3.
- [11.4] Đối với địa điểm các đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý là nhà đất của anh Nguyễn Văn D2, sinh năm 1985, trú tại khu dân cư Đ, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Anh Nguyễn Văn D2 không biết việc K, Tạ Trung D tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại đây nên không đặt ra xử lý.
- [12] Về án phí: Căn cứ vào Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
- [13] Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Quyết định tiếp tục tạm giam mỗi bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
- [14] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn K, Tạ Trung D
Căn cứ khoản 1 Điều 251, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Văn M.
Căn cứ khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo K
Căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với tất cả các bị cáo.
-
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn K, Tạ Trung D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 07 (Bẩy) năm 05 (Năm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/9/2024.
Xử phạt bị cáo Tạ Trung D 07 (Bẩy) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/9/2024.
-
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 02 (Hai) năm 02 (Hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/9/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
-
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 coóng thủy tinh và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu được đựng trong 01phong bì niêm phong số 405/KL-KTHS; 01 chai nhựa, nhãn mác có chữ “Fuzetea”, chiều cao 18 cm, đường kính mặt đáy 5,5cm, phần nắp chai màu đỏ được đục hai lỗ; 01 ống hút bằng nhựa, màu xanh, chiều dài 19cm; 01 bật lửa gas màu xanh, không có nhãn mác; 01 mảnh túi ni lông màu đen, kích thước (30x37)cm; sim Vietnammobie số seri: 89840509231412799694 và sim có số seri 123456789101112.
-
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu INFINIX màu xanh số IMEI 1: 357413226204760, số IMEI 2: 357413226204778, mặt kính trước có vết nứt ngang, máy đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A17k, số IMEI 1: 864821060866732, số IMEI 2: 864821060866724, mặt kính có vết rạn, máy đã qua sử dụng.
(Toàn bộ vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/12/2024 giữa cơ quan điều tra Công an thành phố C và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh).
- - Truy thu của M số tiền 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng.
- - Kiến nghị Công ty cổ phần V2 thu hồi 02 số thuê bao 0532.707.241 và 0362.893.126, đồng thời tịch thu số tiền hiện có trong tài khoản số thuê bao trên.
- Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn K, Tạ Trung D, Nguyễn Văn M mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Luyến |
Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 10/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 07/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức và mua bán
