Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIÊN LÃNG

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST

Ngày 10-02-2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Xuyến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Đức Bình;

Ông Nguyễn Hữu Bình.

Thư ký phiên tòa: Ông Nghiêm Quang Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Quang Khải - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 153/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 08/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lương Thị M, sinh năm 1983, nơi cư trú: Thôn Y, xã V, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Mai Công R, sinh năm 1977, nơi cư trú: Thôn Y, xã V, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt lần thứ 3 không có lý do, đã được Toà án triệu tập hợp lệ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Lương Thị M trình bày: Chị và anh Mai Công R tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V ngày 09/11/2001. Trong thời gian chung sống, anh chị thường xuyên mâu thuẫn, cãi nhau do tính tình không hợp, vợ chồng không còn yêu thương, tôn trọng nhau. Xác định vợ chồng không còn tình cảm, chị M yêu cầu Toà án giải quyết cho chị ly hôn anh R. Anh chị có 02 con chung là Mai Thị Khánh L, sinh ngày 20/7/2002 và Mai Công D, sinh ngày 27/12/2007. Con L đã thành niên, không phải nuôi dưỡng. Anh R làm công nhân, có thu nhập và chỗ ở ổn định để đảm bảo việc nuôi con nên khi ly hôn, chị M đề nghị Toà án giao con D cho anh R nuôi dưỡng; không yêu cầu Toà án giải quyết về việc cấp dưỡng cho con và tài sản chung.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn là anh Mai Công R nhưng anh R không nộp (gửi) văn bản trình bày quan điểm của mình cho Toà án, không đến Toà án làm việc. Tại biên bản ghi lại lời trình bày qua điện thoại, anh R trình bày: Mâu thuẫn giữa anh và chị M không trầm trọng đến mức phải ly hôn nhưng do chị M muốn quay lại mối quan hệ tình cảm với người yêu cũ nên làm đơn xin ly hôn anh. Anh không đồng ý ly hôn nên không đưa ra quan điểm về việc giải quyết về con chung và tài sản chung.

Tài liệu xác minh tại địa phương và gia đình thể hiện: Anh R và chị M tự nguyện kết hôn với nhau từ năm 2001. Quá trình chung sống, anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau, vợ chồng hiện sống chung nhà nhưng đã ly thân, không quan tâm đến nhau. Anh chị có 02 con chung là Mai Thị Khánh L, sinh ngày 20/7/2002 và Mai Công D, sinh ngày 27/12/2007. Con lớn của anh chị đã thành niên, không phải nuôi dưỡng; con nhỏ hiện đang sống cùng anh chị. Cả anh R và chị M đều làm công nhân, có thu nhập và chỗ ở ổn định. Con D có nguyện vọng được sống cùng anh R.

Ý kiến của Kiểm sát viên:

Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định pháp luật; bị đơn chưa thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã thụ lý đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ pháp luật của vụ án là về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

Về hôn nhân, mâu thuẫn tình cảm giữa chị M và anh R đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vi phạm Điều 19, Điều 21 của Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M, xử cho chị M được ly hôn anh R; giao con chung Mai Công D, sinh ngày 27/12/2007 cho anh R trực tiếp nuôi. Không xem xét, giải quyết về cấp dưỡng cho con và tài sản chung do đương sự không yêu cầu. Con Mai Thị Khánh L, sinh ngày 20/7/2002 đã thành niên, không thuộc trường hợp phải nuôi dưỡng nên không phải giải quyết. Chị M là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Chị M và anh R có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Chị Lương Thị M khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Mai Công R, cư trú tại thôn Y, xã V, huyện T nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

[2] Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ 3, đã được Toà án triệu tập hợp lệ. Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị M và anh R.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị M và anh Mai Công R kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V ngày 09/11/2001 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Lời khai của chị M phù hợp với các tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Giữa chị M và anh R thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau, vợ chồng sống chung nhà nhưng đã ly thân, không quan tâm đến nhau. Anh R không đồng ý ly hôn nhưng không tham gia hoà giải, không thể hiện thiện chí mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Do đó, có đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa chị M và anh R đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; yêu cầu ly hôn của chị M là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần chấp nhận, xử cho chị M được ly hôn anh R.

[4] Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Mai Thị Khánh L, sinh ngày 20/7/2002 và Mai Công D, sinh ngày 27/12/2007. Con L đã thành niên, không thuộc trường hợp phải nuôi dưỡng nên không phải giải quyết. Xét thấy anh R có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con, việc giao con cho anh R trực tiếp nuôi phù hợp với đề nghị của của chị M và nguyện vọng của con D, bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con. Do đó căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, giao con Mai Công D cho anh R trực tiếp nuôi. Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, chị M và anh R không yêu cầu Tòa án giải quyết; xét thấy quyền lợi của con vẫn được bảo đảm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung: Chị M và anh R không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Chị M là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Về quyền kháng cáo: Chị M và anh R có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (chị Lương Thị M):

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lương Thị M được ly hôn anh Mai Công R.
  2. Về con chung: Giao con Mai Công D, sinh ngày 27 tháng 12 năm 2007 cho anh R trực tiếp nuôi. Không giải quyết việc cấp dưỡng cho con do các đương sự không yêu cầu. Thời hạn nuôi con tính từ ngày 10 tháng 02 năm 2025 đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Con Mai Thị Khánh L, sinh ngày 20 tháng 7 năm 2002 đã thành niên, không thuộc trường hợp phải nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

  1. Về tài sản chung: Chị M và anh R không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  2. Về án phí: Chị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Chị M đã nộp đủ 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009117 ngày 15 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng.

Chị M và anh R quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Tiên Lãng;
  • - Chi cục THADS huyện Tiên Lãng;
  • - UBND xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng (ĐKKH năm 2001);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Xuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HNGĐ-ST ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 07/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn M-R
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger