TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST Ngày 10-02-2025 V/v “Tranh chấp ly hôn, con chung" | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Kim Sơn
Ông Lê Văn La
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Quý Đôn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 324/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn và con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 207/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10/01/2025 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Chị Hoàng Bích N, sinh năm 1992 ( Có đơn xin vắng mặt)
Hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn
Địa chỉ nơi ở hiện nay: Ký túc xá S, thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
-Bị đơn: Anh Hoàng Hữu T, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn xin ly hôn cùng các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Hoàng Bích N trình bày:
-Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Hoàng Hữu T ngày 14/9/2010, trước khi cưới hai bên có tự do tìm hiểu thỏa thuận và đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện L. Cưới xong vợ chồng về chung sống ở gia đình chị ở xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Vợ chồng chung sống đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng trong quan điểm sống không tìm được tiếng nói chung trong làm ăn phát triển kinh tế. Do vợ chồng mâu thuẫn anh T đã về xã H ở từ năm 2014 đến nay. Năm 2015 chị đã chuyển về nhà anh T ở để vợ chồng hàn gắn tình cảm, nhưng vợ chồng tiếp tục phát sinh mâu thuẫn. Mặc dù đang ở cùng nhà nhưng vợ chồng sống ly thân không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được chị làm đơn xin được ly hôn với anh Hoàng Hữu T.
-Về con chung: Vợ chồng chị có hai con chung là Hoàng Thu T1, sinh ngày 10/4/2011 và Hoàng Thu H, sinh ngày 24/02/2015. Hiện các con khỏe mạnh, phát triển bình thường, đang ở cùng anh T. Vợ chồng ly hôn chị đề nghị giao cả hai con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về cấp dưỡng nuôi con chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Hoàng Bích N không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa chị Hoàng Bích N có đơn vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày ở trên và xin xét xử vắng mặt.
* Tại bản tự khai bị đơn anh Hoàng Hữu T trình bày:
-Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Hữu T thống nhất với lời khai của chị Hoàng Bích N đã trình bày về quá trình kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là đúng. Quá trình giải quyết vụ án phía anh T xét thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh không đồng ý ly hôn, mong muốn vợ chồng về đoàn tụ. Trường hợp chị N không về đoàn tụ anh đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
-Về con chung: Anh Hoàng Hữu T thống nhất với lời khai của chị Hoàng Bích N về hai con chung như chị N đã trình bày là đúng. Trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn anh T xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả con chung là Hoàng Thu T1, sinh ngày 10/4/2011 và Hoàng Thu H, sinh ngày 24/02/2015. Về cấp dưỡng nuôi con anh T không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Hoàng Hữu T không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa anh Hoàng Hữu T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần hai tại phiên tòa không có lý do.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về phía các đương sự nguyên đơn chị N chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa chị N có đơn xin xét xử vắng mặt. Phía bị đơn anh Hoàng Hữu T chưa chấp hành nghiêm quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa anh T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần hai không có lý do.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Bích N được ly hôn anh Hoàng Hữu T.
- Về con chung: Giao cho anh Hoàng Hữu T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Hoàng Thu T1, sinh ngày 10/4/2011 và Hoàng Thu H, sinh ngày 24/02/2015. Về cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn chị Hoàng Bích N được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, mà không ai được cản trở.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết về tiền án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tiến hành tố tụng đảm bảo tuân theo đúng quy định của của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự không có khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Thẩm phán, Thư ký. Do đó các quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa chị Hoàng Bích N có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Hoàng Hữu T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần hai không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Bích N và anh Hoành Hữu T2 đăng ký kết hôn ngày 14/9/2010, tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện L trên cơ sở tự nguyện, hợp pháp. Quá trình chung sống chị N và anh T2 đều xác nhận trong quan hệ hôn nhân vợ chồng có mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng trong quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong làm ăn phát triển kinh tế gia đình. Nay chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị N đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T2. Phía anh T2 trong quá trình giải quyết vụ án có lời khai không đồng ý ly hôn, mong muốn vợ chồng về đoàn tụ. Hội đồng xét xử xét thấy, chị N và anh T2 trong thời gian chung sống vợ chồng không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ với nhau, không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ mọi việc, không giữ gìn, bảo vệ hạnh phúc gia đình; vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, không quan tâm qua lại, chăm sóc gì cho nhau và hiện nay anh chị đang sống ly thân. Theo biên bản xác minh tình trạng hôn nhân tại địa phương, hiện nay chị N và anh T2 đang sống ly thân. Xét thấy mâu thuẫn tình cảm giữa chị N và anh T2 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Hoàng Bích N được ly hôn anh Hoàng Hữu T.
[3] Về con chung: Chị Hoàng Bích N và anh Hoành Hữu T2 có hai con chung là Hoàng Thu T1, sinh ngày 10/4/2011 và Hoàng Thu H, sinh ngày 24/02/2015. Hiện hai con chung khỏe mạnh phát triển bình thường, đang ở cùng anh T2. Quá trình giải quyết vụ án phía chị N đề nghị giao cả hai con chung cho anh T2 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Phía anh T2 có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi cả hai con chung nếu vợ chồng ly hôn. Tại biên bản lấy lời khai trong hồ sơ vụ án hai con chung của chị N và anh T2 cùng có nguyện vọng xin được ở cùng anh T2 khi bố mẹ ly hôn. HĐXX xét thấy việc chị N và anh T2 thỏa thuận người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc hai con chung sau khi vợ chồng ly hôn là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với nguyện vọng của các con chung của anh chị. Để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của trẻ em, ổn định tâm lý của trẻ tránh cuộc sống bị sáo trộn. HĐXX xét thấy cần chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận của chị N và anh T2, giao con chung là Hoàng Thu T1 và Hoàng Thu H cho anh T2 trực tiếp nuôi dưỡng, để anh T2 có thể chăm sóc, giáo dục con đầy đủ về mặt thể chất và tinh thần là phù hợp với Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình và phù hợp với quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Hoàng Bích N và anh Hoành Hữu T2 không đề nghị gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn, chị Hoàng Bích N có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định tại Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Hoàng Bích N và anh Hoành Hữu T2 không đề nghị, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc chị Hoàng Bích N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0007839 ngày 09/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[7] Về ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Bích N được ly hôn anh Hoàng Hữu T.
- Về con chung: Giao cho anh Hoàng Hữu T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Hoàng Thu T1, sinh ngày 10/4/2011 và Hoàng Thu H, sinh ngày 24/02/2015. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn chị Hoàng Bích N được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Buộc chị Hoàng Bích N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0007839 ngày 09/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Hoàng Bích N đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Quỳnh Hoa |
Bản án số 07/2025/HNGĐ-ST ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, con chung
- Số bản án: 07/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị Ng, anh T
