Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒN ĐẤT

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/DS-ST

Ngày: 10/02/2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Nguyễn Thanh Huy;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Hoa;

Bà Hà Thị Kim Thu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp Viện Kiểm sát không tham gia phiên tòa.

Ngày 10 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 281/2024/TLST-DS ngày 16 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 168/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐST-DS giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K. Địa chỉ: Số D P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M - Tổng Giám đốc;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Trung V - Phó Tổng Giám đốc (Theo Quyết định ủy quyền số 3366/QĐ-NHKL ngày 21/8/2023);

Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Trung V: Ông Trần Vũ N - Phó Giám đốc Phòng Xử lý nợ (Theo Quyết định ủy quyền số 1934/QĐ-NHKL ngày 09/7/2024);

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng tại Tòa: Ông Tạ Chí D - Chuyên viên Xử lý nợ khu vực, Phòng Xử lý nợ - Ngân hàng TMCP K (Theo Quyết định ủy quyền số 1354/QĐ-NHKL ngày 24/5/2024) - (Có mặt).

- Bị đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm: 1977 và ông Nguyễn Tấn P, sinh năm: 1974. Cùng địa chỉ: Tổ G, ấp V, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/7/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền nguyên đơn Ngân hàng TMCP K do anh Tạ Chí D trình bày:

Ngày 19/5/2014, bà Trần Thị T và ông Nguyễn Tấn P đến Ngân hàng TMCP K - Phòng G (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng) vay số tiền 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng). Bà T và ông P dùng tài sản do bà T đứng tên là quyền sử dụng đất để thế chấp, bảo đảm cho hợp đồng tín dụng vừa nêu. Cụ thể việc vay và bảo đảm cho khoản vay được thể hiện trong Hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp sau đây:

* Hợp đồng tín dụng số NL 0176/HĐTD ngày 19/5/2014: Số tiền vay: 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng).

- Mục đích vay: Bổ sung vốn phục vụ sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi.

- Thời hạn vay: 24 tháng, kể từ Bên A nhận nợ lần đầu tiên.

- Ngày giải ngân: 20/5/2014.

- Lãi suất cho vay 03 tháng đầu kể từ ngày giải ngân là 1,12%/tháng (30 ngày). Kể từ tháng thứ 4 trở đi, lãi suất cho vay thay đổi ba tháng một lần và được tính bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 13 tháng lãnh lãi cuối kỳ của Ngân hàng K tại thời điểm điều chỉnh lãi suất cộng (+) biên độ (0,40%/tháng). Lãi suất sau khi điều chỉnh không được thấp hơn lãi suất cho vay tối thiểu hiện hàng tại Ngân hàng TMCP K - Phòng G (cùng loại hình và phương thức cho vay).

- Lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay đang áp dụng tại thời điểm liền trước thời điểm phát sinh nợ quá hạn.

- Lãi suất lãi chậm trả: 0,05%/ngày tính trên số tiền lãi chậm trà tương ứng với số ngày chậm trả.

- Kỳ hạn trả lãi vay (theo Phụ kiện hợp đồng tín dụng số NL 0176/PKHĐTD ngày 19/5/2014): Bên A phải trả đầy đủ lãi tiền vay 06 tháng/lần kể từ ngày nhận nợ lần đầu tiên;

- Kỳ hạn trả gốc: Cuối kỳ;

- Số lần trả nợ gốc: 01 kỳ.

* Hợp đồng tín dụng nêu trên được bảo đảm bởi Hợp đồng thể chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số NL 0176/HĐTC ngày 19/5/2014 được ký kết giữa đại diện Ngân hàng với bà Trần Thị T, ông Nguyễn Tấn P và đã được Văn Phòng C công chứng ngày 19/5/2014; tài sản thế chấp bảo đảm nợ vay này là Quyền sử dụng đất theo:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 909752 do UBND huyện H cấp ngày 09 tháng 01 năm 2002, thửa đất số 187; tờ bản đồ số 5; diện tích 15.552m², mục đích sử dụng đất: đất 02 vụ lúa, tọa lạc ấp V, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang; đứng tên bà Trần Thị T.

Tài sản thế chấp nêu trên đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện H ngày 19/5/2014.

Hết thời hạn vay, bà T và ông P trả nợ cho Ngân hàng không đúng theo thỏa thuận. Tạm tính đến ngày 28/6/2024, bà T và ông P còn nợ Ngân hàng vốn gốc là 24.800.000 đồng; tiền lãi quá hạn là 35.812.776 đồng, tổng cộng là 60.612.776 đồng.

Việc bà T và ông P thực hiện không đúng thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng nêu trên dẫn đến khoản vay chuyển sang nhóm nợ xấu; làm ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn, quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng TMCP K. Nay anh đại diện Ngân hàng yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết:

Buộc bà T và ông P trả cho Ngân hàng TMCP K tổng số tiền tính đến ngày 28/6/2024 là 60.612.776₫ (Sáu mươi triệu sáu trăm mười hai nghìn bảy trăm bảy mươi sáu đồng). Trong đó, dư nợ gốc là 24.800.000 đồng; tiền lãi quá hạn là 35.812.776 đồng. Đồng thời bà T và ông P còn phải chịu tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc từ ngày 29/6/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi thanh toán dứt nợ.

Trường hợp bà Trần Thị T và ông Nguyễn Tấn P không trả hoặc trả không dứt nợ trong thời gian thỏa thuận hoặc khi Bản án, Quyết định có hiệu lực thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự kê biên, phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số NL 0176/HĐTC ngày 19/5/2014 được ký kết giữa đại diện Ngân hàng với bà Trần Thị T1, ông Nguyễn Tấn P và đã được Văn Phòng C công chứng ngày 19/5/2014 để ưu tiên thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP K.

Bị đơn bà Trần Thị T và ông Nguyễn Tấn P:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho vợ chồng ông P, bà T, nhưng vợ chồng bà T, ông P đều vắng mặt, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của vợ chồng bà T, ông P đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của Ngân hàng TMCP K yêu cầu vợ chồng bà T, ông P phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 10/02/2025 là 63.673.582 đồng (Trong đó, nợ gốc 24.800.000 đồng, lãi quá hạn 38.873.582 đồng) và tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc từ ngày 11/02/2025 theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toan dứt nợ cho Ngân hàng.

Trường hợp, vợ chồng bà T, ông P không trả hoặc trả không dứt nợ khi Bản án có hiệu lực pháp luật, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số NL 0176/HĐTC ngày 19/5/2014 được ký kết giữa đại diện Ngân hàng với vợ chồng bà T, ông P đã được Văn phòng C công chứng ngày 19/5/2014 để ưu tiên thanh toán nợ cho Ngân hàng.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, HĐXX nhận định vụ án này như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện, Ngân hàng TMCP K yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng bà Trần Thị T, ông Nguyễn Tấn P phải trả số tiền gốc và lãi còn nợ theo Hợp đồng tín dụng đã được hai bên ký kết. Xét thấy đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng, bị đơn vợ chồng bà T, ông P có nơi cư trú tại tổ G, ấp V, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn vợ chồng bà T, ông P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt không có lý do, nên HĐXX căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vẫn tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt bị đơn tại phiên tòa.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Ngân hàng TMCP K yêu cầu vợ chồng bà T, ông P phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 10/02/2025 là 63.673.582 đồng (Trong đó, nợ gốc 24.800.000 đồng, lãi quá hạn 38.873.582 đồng) và tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc từ ngày 11/02/2025 theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toan dứt nợ cho Ngân hàng.

Xét yêu cầu này của nguyên đơn, HĐXX thấy rằng:

Vào ngày 19/5/2014, vợ chồng bà T, ông P có đến Ngân hàng TMCP K - Phòng giao dịch số 04 vay số tiền 60.000.000 đồng và dùng tài sản là quyền sử dụng đất do bà T đứng tên để thế chấp. Giữa hai bên có ký kết hợp đồng tín dụng số NL 0176/HĐTD ngày 19/5/2014, mục đích bổ sung vốn phục vụ sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, thời hạn vay 24 tháng kể từ ngày nhận nợ đầu tiên (19/5/2014). Sau khi nhận tiền vay, vợ chồng bà T, ông P đã trả cho Ngân hàng tiền lãi và số nợ gốc 35.200.000 đồng, còn lại dư nợ gốc 24.800.000 đồng và tiền lãi không trả cho Ngân hàng, mặc dù Ngân hàng đã đôn đốc, nhắc nhở nhiều lần. Vì vậy, vợ chồng bà T, ông P đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng. Do vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà T, ông P phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 10/02/2025 là 63.673.582 đồng và tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc từ ngày 11/02/2025 theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toan dứt nợ cho Ngân hàng là có cơ sở để HĐXX chấp nhận.

[3.2] Đối với trường hợp, vợ chồng bà T, ông P không trả hoặc trả không dứt nợ khi Bản án có hiệu lực pháp luật, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số NL 0176/HĐTC ngày 19/5/2014 được ký kết giữa đại diện Ngân hàng với vợ chồng bà T, ông P đã được Văn phòng C công chứng ngày 19/5/2014 để ưu tiên thanh toán nợ cho Ngân hàng.

HĐXX xét thấy, khi vợ chồng bà T, ông P vay tiền của Ngân hàng thì có dùng tài sản là: Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 909752 do UBND huyện H cấp ngày 09/01/2002, thửa đất số 187, tờ bản đồ số 5, diện tích 15.552m², mục đích sử dụng đất: đất 02 lúa, đất tọa lạc tại ấp V, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang để thế chấp cho Ngân hàng. Giữa vợ chồng bà T, ông P với đại diện Ngân hàng có xác lập hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số NL 0176/HĐTC ngày 19/5/2014 và đã được Văn phòng C công chứng ngày 19/5/2014. Do đó, khi vợ chồng bà T, ông P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không dứt nợ, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là phù hợp.

Do đó, trong quá trình nghị án và thảo luận, HĐXX có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nguyên đơn.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Buộc vợ chồng bà Trần Thị T, ông Nguyễn Tấn P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm 5% trên số tiền 63.673.582 đồng phải trả cho Ngân hàng TMCP K là 3.183.679 đồng (Làm tròn 3.184.000 đồng).

- Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP K.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147; Điều 186, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng khoản 2 Điều 91, Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010 của Quốc hội 12.

- Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K.

2. Buộc vợ chồng bà Trần Thị T, ông Nguyễn Tấn P phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền gốc và lãi tính đến ngày 10/02/2025 63.673.582đ (Sáu mươi ba triệu sáu trăm bảy mươi ba nghìn năm trăm tám mươi hai đồng). (Trong đó, nợ gốc 24.800.000 đồng, lãi quá hạn 38.873.582 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong nợ, vợ chồng bà Trần Thị T, ông Nguyễn Tấn P còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số số NL 0176/HĐTD ngày 19/5/2014 cho đến khi thanh toán xong nợ Ngân hàng TMCP K.

2. Ngân hàng TMCP K có trách nhiệm giải chấp cho vợ chồng bà Trần Thị T, ông Nguyễn Tấn P toàn bộ hồ sơ, giấy tờ có liên quan đến giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 909752 do UBND huyện H cấp ngày 09 tháng 01 năm 2002 đối với thửa đất số 187; tờ bản đồ số 5; diện tích 15.552m², mục đích sử dụng đất: Đất 02 vụ lúa; tọa lạc ấp V, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang đứng tên bà Trần Thị T đã thế chấp tại Ngân hàng ngay sau khi tất toán toàn bộ nợ vay của Hợp đồng tín dụng trong thời hạn cam kết.

Trường hợp vợ chồng bà Trần Thị T, ông Nguyễn Tấn P không thanh toán số tiền còn thiếu nợ cho Ngân hàng, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên phát mãi tài sản thế chấp để Ngân hàng thu hồi nợ: Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R909752 do UBND huyện H cấp ngày 09 tháng 01 năm 2002, thửa đất số 187; tờ bản đồ số 5; diện tích 15.552m², mục đích sử dụng đất: Đất 02 vụ lúa; tọa lạc ấp V, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang; đứng tên bà Trần Thị T theo hợp đồng thế chấp số NL 0176/HĐTC ngày 19/5/2014 và đã được Văn phòng C công chứng ngày 19/5/2014.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc vợ chồng bà Trần Thị T, ông Nguyễn Tấn P phải nộp án phí dân sự với số tiền 3.184.000đ (Ba triệu một trăm tám mươi bốn nghìn đồng).

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.515.000₫ (Một triệu năm trăm mười lăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009514 ngày 07 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang (Do Hà Hoàn H nộp thay).

4. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo theo hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tuyên án (10/02/2025); Đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thì được quyền kháng cáo Bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND huyện Hòn Đất;
  • - THADS huyện Hòn Đất;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Nguyễn Thanh H1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/DS-ST ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 07/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP KL kiện Trần Thị Th
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger