Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH MIỆN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HS-ST

Ngày: 07-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Lý

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Lý – Giáo viên trường Trung học phổ thông Thanh Miện

2. Ông Vũ Việt Trung – Phó Chủ tịch Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Thanh Miện

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đình Lân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuê – Kiểm sát viên

Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Đặng Đức L; Sinh ngày: 16/7/2007;

Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương

Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hoá: 11/12;

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Đặng Văn S, sinh năm: 1976

Con bà: Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm: 1985;

Gia đình có ba chị em, bị cáo là con thứ hai.

Tiền án; Tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Đặng Văn S, sinh năm: 1976 và bà Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm: 1985.

Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương

Là bố mẹ của bị cáo. Có mặt

- Người bào chữa: Ông Phạm Văn Đ – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh H. Có mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm: 1985.

Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương. Có mặt

Người tham gia tố tụng khác:

- Đại diện nhà trường nơi bị cáo học tập: Đại diện trường Trung học phổ thông L1, huyện T, tỉnh Hải Dương: Bà Nguyễn Thị T1 – Giáo viên. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Người chứng kiến: Ông Đặng Xuân M, sinh năm: 1970. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu mua pháo nổ về sử dụng, ngày 24/10/2024, L ra quán internet tại thị trấn T (không nhớ địa chỉ cụ thể) lập tài khoản facebook ảo để tìm mua pháo nổ. L nói chuyện với người sử dụng tài khoản Facebook “Tuan Phao” (chưa xác định được nick facebook cụ thể và nhân thân, lai lịch) để hỏi mua pháo nổ. Cả hai thỏa thuận người dùng tài khoản “Tuan Phao” gửi trước cho L 01 quả pháo nổ tự cuộn loại to với giá 180.000 đồng/1 quả để kiểm tra trước và L gửi địa chỉ nhà mình cho “Tuan Phao”. Đến ngày 28/10/2024, L được 01 người đàn ông không quen biết đến giao cho 01 quả pháo nổ, L đưa cho người này 180.000 đồng tiền mặt. L cất giấu trong phòng ngủ, sau đó mang đến cánh đồng gần nhà để đốt thử, khi đốt pháo tạo ra tiếng nổ lớn. Sau đó, L tiếp tục lên mạng đặt mua của “Tuan Phao” 29 quả pháo nổ với giá 180.000 đồng/1 quả, tổng là 5.220.000 đồng.

Khoảng 14 giờ ngày 03/11/2024, có một người đàn ông không quen biết giao đến nhà cho L 01 thùng bìa carton kích thước (50 x 34 x 30)cm, bên trong chứa 29 quả pháo nổ có đặc điểm đường kính từ 7 cm đến 7,5 cm, cao từ 20,5 cm đến 25,5 cm, bên ngoài dán giấy trắng, trên đầu có 01 đoạn dây dẫn được bịt kín. L trả cho người này 5.220.000 đồng tiền mặt rồi mang thùng đừng 29 quả pháo nổ cất giấu trong gầm giường phòng ngủ tại tầng 2 nhằm để đốt trong dịp tết Nguyên Đán sắp tới. Đến 16 giờ 15 phút cùng ngày, L bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H kiểm tra, phát hiện và thu giữ vật chứng.

Kết luận giám định số 226/KL-KTHS ngày 05/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: 29 khối hình trụ tròn được cuộn bằng giấy nhiều lớp, có đường kính từ 7 cm đến 7,5 cm, cao từ 20,5 cm đến 25,5 cm, bên ngoài dán giấy màu trắng, hai đầu mỗi vật được bịt kín, một đầu có gắn dây dẫn màu bạc. Tất cả đều là pháo nổ, khối lượng gửi giám định là 19,459 kg.

Vật chứng thu giữ được: Số pháo nổ hoàn lại sau giám định đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiêu hủy theo quy định; các vật chứng còn lại gồm 01 thùng bìa carton, 01 điện thoại di động hiệu Iphone11 Pro màu bạc, kèm theo sim số thuê bao 0338128619 đã được chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Miện.

Tại bản Cáo trạng số 05/CT-VKS-TM, ngày 31/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện truy tố Đặng Đức L về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo không thắc mắc, khiếu nại bản cáo trạng, thừa nhận toàn bộ hành vi và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân huyện T giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị: tuyên bố bị cáo Đặng Đức L phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; 65; 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo L từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 thùng bìa carton (50x34x30)cm, bên ngoài thùng có chữ Phú G, trả lại cho bà Nguyễn Thị Hồng T 01 điện thoại di động hiệu Iphone11 Pro màu bạc (đã qua sử dụng), kèm theo sim số thuê bao 0338128619.

Về án phí: đề nghị buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo thống nhất với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về phần tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và điều luật áp dụng. Về mức hình phạt, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, còn đang đi học, bị cáo là người chưa thành niên, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định và không áp dụng hình phạt bổ sung.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như mức hình phạt mà người bào chữa đề nghị.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thống nhất với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát trả lại 01 điện thoại di động hiệu Iphone11 Pro màu bạc (đã qua sử dụng), kèm theo sim số thuê bao 0338128619.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Người bào chữa đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2]. Về hành vi của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến sự việc, lời khai tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: do có nhu cầu sử dụng pháo nổ nên bị cáo L đã mua và cất giấu trái phép tại nhà ở 29 quả pháo nổ có khối lượng 19,459kg, đến khoảng 16 giờ 15 phút, ngày 03/11/2024, bị cáo bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Bị cáo đã trên 16 tuổi, phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm (trừ những tội phạm mà Bộ luật Hình sự có quy định khác), bị cáo nhận thức được tác hại của pháo nổ gây ra đối với tính mạng, sức khỏe của con người, trật tự an toàn xã hội và nhận thức được pháo nổ là loại hàng hóa mà Nhà nước cấm cất giữ trái phép, nhưng bị cáo vẫn cố tình mua và cất giấu trong nhà 19,459kg pháo nổ nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng hóa.

Từ những nhận định trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đặng Đức L phạm tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quyết định hình phạt:

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không thuộc trường hợp bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4]. Về quyết định hình phạt:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng hóa, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự tại địa phương. Hội đồng xét xử căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

Bị cáo thuộc trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự, quy định hình phạt là tù có thời hạn. Theo quy định tại Điều 101 Bộ luật Hình sự thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng cho bị cáo không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định, theo quy định tại khoản 1 Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên thì thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần năm mức phạt tù mà điều luật của Bộ luật Hình sự quy định. Quy định về mức phạt tù có thời hạn tại khoản 1 Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên có lợi cho bị cáo. Luật Tư pháp người chưa thành niên được công bố ngày 02/12/2024, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, nhưng theo quy định tại khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên các quyết định có lợi cho bị cáo được áp dụng kể từ ngày Luật này được công bố. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên khi quyết định áp dụng hình phạt đối với bị cáo.

Xét, bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, khi phạm tội thuộc trường hợp từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nên nhận thức còn hạn chế, khi xử lý chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội, do vậy, không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng án treo để tự cải tạo dưới sự giám sát của gia đình, chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

[5]. Về vật chứng:

Đối với 24 vật trụ là pháo nổ có khối lượng 16,096kg do Phòng K - Công an tỉnh H hoàn lại đối tượng giám định là vật chứng cấm tàng trữ nên Cơ quan điều tra đã thực hiện việc tiêu hủy là đúng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

01 thùng bìa carton (50x34x30)cm, bên ngoài thùng có chữ Phú Gia không có giá trị nên căn cứ tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

01 điện thoại di động hiệu Iphone11 Pro màu bạc (đã qua sử dụng), kèm theo sim số thuê bao 0338128619 thu giữ từ bị cáo, quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị Hồng T (mẹ của bị cáo), bị cáo mượn để sử dụng vào việc học tập và trong vụ án này, bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên tuyên trả lại cho bà T theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[6]. Quá trình điều tra không xác định được người bán pháo nổ và giao pháo nổ cho bị cáo L, bố mẹ của bị cáo là ông Đặng Văn S, bà Nguyễn Thị Hồng T không biết việc bị cáo tàng trữ pháo nổ nên không có căn cứ xem xét, xử lý.

[7]. Về án phí: bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; 65; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên;

Áp dụng điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; điểm d khoản 1 Điều 125; 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Đức L phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

2. Xử phạt: bị cáo Đặng Đức L 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đặng Đức L cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục và gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương theo dõi, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên theo quy định của Luật Thi hành án hình sự thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Đặng Đức L.

3. Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 thùng bìa carton, màu tím, kích thước khoảng (50x34x30)cm, bên ngoài thùng có chữ Phú Gia và chữ chổi lau nhà đa năng.

Trả lại cho bà Nguyễn Thị Hồng T 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11Pro màu bạc (đã qua sử dụng), bên trong có gắn sim số thuê bao 0338128619.

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Miện, ngày 10/01/2025).

4. Về án phí: buộc bị cáo Đặng Đức L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND huyện Thanh Miện;
  • - CQCSĐT Công an huyện Thanh Miện;
  • - CQTHAHS Công an huyện Thanh Miện;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Miện;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hương Lý

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự về tội tàng trữ hàng cấm

  • Số bản án: 07/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 01 năm tù cho hưởng án treo.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger