|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST Ngày 07 - 02- 2025 Về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Hồng Nhân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Thi Thị Thanh Trúc
- Bà Trần Thị Sang
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Khánh Duy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Phúc Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án thụ lý số: 06/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 27 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Hồ Thị T, sinh năm 1984 (có mặt tại điểm cầu Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh).
Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
Bị đơn: Ông Phạm Văn M, sinh năm 1979 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 04 tháng 9 năm 2024, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Hồ Thị T trình bày:
Vào năm 2007, bà với ông Phạm Văn M có kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C. Quá trình sống chung có 01 người con chung tên Phạm Văn T1, sinh ngày 20/01/2017. Tài sản chung, nợ chung: Không có.
Sau khi kết hôn 02 vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẩn. Ông M không lo làm ăn phụ giúp gia đình mà ăn chơi tự tập bạn bè uống rượu. Bà có khuyên ngăn ông M nhiều lần nhưng ông M không thay đổi. Bà một mình nuôi con đến con 07 tuổi thì ông M về gây gỗ và bắt con về sống chung với ông M. Bà bỏ về nhà cha mẹ ruột tại xã P, huyện T khoảng 01 năm nay. Nay bà không thể tiếp tục cuộc hôn nhân này nữa nên bà yêu cầu ly hôn với ông M.
Về con chung: Bà thống nhất giao con chung Phạm Văn T1, sinh ngày 20/01/2017 cho ông Phạm Văn M nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con.
- Bị đơn ông Phạm Văn M đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không đến Tòa án cũng như không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Theo bản tự khai của em Phạm Minh T2: Em có nguyện vọng ở với cha.
- Vị Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự thực hiện theo các quy định tại các Điều 48, 68, 70, 71, 72, 97, 177, 196, 203, 205, 208, 209, 210, 211, 220 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Nội dung vụ án: Vị kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 51, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị T. Cho bà Hồ Thị T được ly hôn với ông Phạm Văn M, giao con chung tên Phạm Văn T1, sinh ngày 20/01/2017 cho ông Phạm Văn M nuôi dưỡng, bà Hồ Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét giải quyết. Bà Hồ Thị T có nghĩa vụ chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật của vụ án: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, bị đơn ông Phạm Văn M có nơi cư trú tại ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh, căn cứ vào khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử vắng mặt bị đơn theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về hôn nhân: Xét thấy, bà Hồ Thị T và ông Phạm Văn M tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân với nhau vào năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.
Quá trình chung sống với nhau giữa bà Hồ Thị T và ông Phạm Văn M phát sinh mâu thuẩn. Theo lời trình bày của bà Hồ Thị T, sau khi kết hôn vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẩn do ông M không lo làm ăn phụ giúp gia đình mà ăn chơi tụ tập bạn bè uống rượu. Bà có khuyên ngăn ông M nhiều lần nhưng ông M không thay đổi. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên ông M bắt con theo ông M lên TP H. Bà bỏ về nhà cha mẹ ruột khoảng 01 năm nay. Nay bà không thể tiếp tục cuộc hôn nhân này nữa nên bà yêu cầu ly hôn với ông M.
Đối với ông Phạm Văn M, kể từ ngày Tòa án thụ lý vụ án và tiến hành hòa giải, Tòa án triệu tập ông M tham gia hòa giải và phiên tòa xét xử nhưng ông M vẫn vắng mặt. Điều này cho thấy ông M không có thiện chí đoàn tụ gia đình với bà T. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng của bà T và ông M không còn yêu thương nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được nữa, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cho bà T và ông M ly hôn là có cơ sở.
[4] Về con chung: 01 người con chung tên Phạm Văn T1, sinh ngày 20/01/2017. Hiện tại con chung đang sống chung với ông Phạm Văn M phát triển đầy đủ về tinh thần và thể chất. Theo nguyện vọng của em T1 muốn sống chung với cha ông Phạm Văn M. Do đó Hội đồng xét xử giao người con chung cho ông M tiếp tục nuôi dưỡng là có căn cứ.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Phạm Văn M không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Hồ Thị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[6] Xét đề nghị của Vị đại diện viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.
[7] Án phí: Bà Hồ Thị T chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ các Điều 51; 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của bà Hồ Thị T. Cho bà Hồ Thị T được ly hôn với ông Phạm Văn M.
Con chung: Giao 01 người con chung tên Phạm Văn T1, sinh ngày 20/01/2017 nuôi dưỡng cho ông Phạm Văn M nuôi dưỡng.
Bà Hồ Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bà Hồ Thị T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Hồ Thị T khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Bà Hồ Thị T chịu toàn bộ án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0009385 ngày 04/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Bà Hồ Thị T không phải nộp thêm. Ông Phạm Văn M không phải chịu án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Sơn Thị Hồng Nhân |
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ |
|
Võ Trường T3 – Trần Thị Sang |
Sơn Thị Hồng Nhân |
Bản án số 07/2025/HNGĐ-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH về ly hôn và tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 07/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của bà Hồ Thị T. Cho bà Hồ Thị T được ly hôn với ông Phạm Văn M.
