Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NAM SÁCH

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HS-ST

Ngày: 05/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Cẩm Vân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đắc Quýnh và bà Trần Thị Luận.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Sách.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách tham gia phiên toà: Ông Phùng Văn Huấn - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 05/2025/TLST-HS, ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HS ngày 23/01/2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1981; Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Phạm Thị X; Vợ là Đoàn Thị M; Có 03 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2011.

Tiền án, tiền sự: Chưa.

Hiện bị cáo đang được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Hữu H, sinh năm 1972; Địa chỉ: Khu L, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt tại phiên toà

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Đoàn Thị M, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương. Có mặt tại phiên toà.

- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị D; Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03 giờ ngày 04/12/2024, Nguyễn Văn T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu sài. T cầm theo 01 chiếc kìm cộng lực, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại RSX, biển số 20H1-265.59, phía sau kéo theo 01 chiếc xe lôi sang khu vực huyện N để trộm cắp tài sản. Khoảng 04 giờ cùng ngày T đến trước số nhà C đường T, khu L, thị trấn N, huyện N thì thấy tại vỉa hè trước cửa nhà có 01 máy trộn bê tông, vữa loại 380 lít, màu sơn đỏ, trên thân máy có sơn hàng số và chữ màu trắng “380L-XK”, máy được khoá bằng dây áp vào gốc cây, cạnh đó tại số nhà C có 01 công trình nhà dân đang xây dựng. Đó là máy của anh Nguyễn Hữu H, sinh năm 1972; Địa chỉ: Khu L, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương, anh H đang xây dựng nhà cho gia đình bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1969, trú tại số C đường T, thị trấn N. T dừng xe mô tô vào lề đường sát cạnh máy trộn, sau đó xuống xe dùng kìm cộng lực cắt dây cáp đang khoá máy vào gốc cây và đẩy máy lên xe lôi và chở về nhà của bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1969 ở thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương để cất giấu.

Sau khi phát hiện máy trộn bê tông vữa bị mất, anh H đã trình báo Công an thị trấn N. Nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình nên ngày 10/12/2024 T đã viết đơn và đến đầu thú tại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện N, đồng thời khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình. T đã giao nộp cho Cơ quan điều tra tài sản đã trộm cắp là chiếc máy trộn bê tông vữa, giao nộp chiếc kìm cộng lực, xe mô tô biển số 20H1-265.59 phía sau kéo theo 01 chiếc xe lôi là công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội. Anh H giao nộp 01 cuộn dây cáp vỏ bằng nhựa, bên trong là lõi bằng kim loại, có chiều dài là 8m, chu vi ngoài 01 cm.

Kết luận định giá tài sản số 24/KL-HDĐGTS, ngày 11/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản - UBND huyện N kết luận: 01 máy trộn bê tông, trộn vữa, màu sơn đỏ, trên thân máy in hàng chữ màu trắng 380L-XK, được mua mới tháng 3/2024. Máy hoạt động bình thường, không hỏng hóc, thay thế sửa chữa gì. Thời điểm định giá tháng 12/2024 có giá trị 4.333.000đồng.

* Về vật chứng của vụ án:

  • - 01 máy trộn bê tông, trộn vữa, màu sơn đỏ, trên thân có sơn hàng số và chữ màu trắng “380L-XK” đã được trả cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Hữu H.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại RSX, biển số 20H1-265.59, 01 chiếc xe lôi hai bánh làm bằng sắt, càng xe dài 01m, bụng xe có kích thước (01x01x0.75)m; 01 kìm cộng lực màu xanh lá dài 60cm, đầu kìm dài 10cm, thân và tay cầm dài 50cm; 01 cuộn dây cáp vỏ bằng nhựa, bên trong là lõi bằng kim loại, có chiều dài là 08m, chu vi ngoài 01cm, cuộn cáp đã bị cắt làm đôi, hiện đang quản lý tại kho vật chứng Chi cục THA Dân sự huyện N.

Tại bản Cáo trạng số 06/CT-VKS, ngày 23/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (viết tắt BLHS).

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách thực hành quyền công tố, trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; khoản 1 Điều 173; Điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị HĐXX tuyên bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản. Về hình phạt chính đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo T cho UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước ½ giá trị xe mô tô nhãn hiệu Honda loại RSX, biển số 20H1-265.59, ½ giá trị chiếc xe lôi hai bánh làm bằng sắt, 01 kìm cộng lực màu xanh lá; trả lại cho chị Đoàn Thị M ½ giá trị xe mô tô nhãn hiệu Honda loại RSX, biển số 20H1-265.59, ½ giá trị chiếc xe lôi hai bánh làm bằng sắt; trả lại cho anh Nguyễn Hữu H 01 cuộn dây cáp vỏ bằng nhựa. Về án phí: Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo T thành khẩn khai báo, công nhận Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách là đúng. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, được cải tạo tại địa phương.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị M đề nghị được xin lại ½ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại RSX, biển số 20H1-265.59, ½ giá trị chiếc xe lôi hai bánh làm bằng sắt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi tố tụng, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và vật chứng, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 04/12/2024 Nguyễn Văn T đã có hành vi lén lút lấy của Nguyễn Hữu H 01 máy trộn bê tông, trộn vữa, màu sơn đỏ, trên thân có sơn hàng số và chữ màu trắng “380L-XK”, giá trị đã chiếm đoạt là 4.333.000đồng.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự tại địa phương. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng do lười lao động, lại muốn có tiền tiêu sài nên đã có hành vi lợi dụng sơ hở của bị hại, lén lút chiếm đoạt tài sản có tổng giá trị là 4.333.000đồng, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng.

[4] Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo không phải chịu tình tiến tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, đã tự giao nộp lại tài sản đã chiếm đoạt cho người bị hại, làm giảm bớt tác hại của tội phạm; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bị cáo phạm tôi lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Mặt khác, bị hại có đơn đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm a, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hơn nữa bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, hành vi giản đơn, thiệt hại cho bị hại không lớn, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú và đã hoàn trả tài sản đã chiếm đoạt cho bị hại. Từ đó, cho thấy bị cáo rất ăn năn, hối cải về hành vi của mình, vì vậy cho bị cáo được hưởng án treo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo cho bị cáo cơ hội sửa chữa bản thân và cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định về hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng do bị cáo là không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về vật chứng: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại RSX, biển số 20H1-265.59, 01 chiếc xe lôi hai bánh làm bằng sắt, càng xe dài 01m, bụng xe có kích thước (01x01x0.75)m, bị cáo T sử dụng làm phương tiện phạm tội là tài sản chung của vợ chồng bị cáo. Khi bị cáo T điều khiển xe thực hiện hành vi phạm tội, vợ bị cáo là chị Đoàn Thị M không biết nên cần tịch thu ½ giá trị tài sản đó sung quỹ Nhà nước và trả lại cho chị M ½ giá trị tài sản này;

01 kìm cộng lực màu xanh lá dài 60cm, đầu kìm dài 10cm, thân và tay cầm dài 50cm là công cụ bị cáo T dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

01 cuộn dây cáp vỏ bằng nhựa, bên trong là lõi bằng kim loại, có chiều dài là 08m, chu vi ngoài 01cm là tài sản của bị hại nên cần trả lại cho bị hại là anh H.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Anh H nhận lại tài sản không có yêu cầu, đề nghị gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật phí và lệ phí, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm a, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 65, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo T cho UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về vật chứng:
    • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước ½ giá trị xe mô tô nhãn hiệu Honda loại RSX, biển số 20H1-265.59; ½ giá trị chiếc xe lôi hai bánh làm bằng sắt, 01 kìm cộng lực màu xanh lá;
    • - Trả cho chị Đoàn Thị M ½ giá trị xe mô tô nhãn hiệu Honda loại RSX, biển số 20H1-265.59; ½ giá trị chiếc xe lôi hai bánh làm bằng sắt;
    • - Trả cho anh Nguyễn Hữu H 01 cuộn dây cáp vỏ bằng nhựa, bên trong là lõi bằng kim loại, có chiều dài 8 m, chu vi ngoài 01 cm.

    (Vật chứng được thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện N và Chi cục THADS huyện N ngày 24.01.2025).

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSD huyện Nam Sách;
  • - VKS tỉnh Hải Dương;
  • - Cơ quan CSĐT - CA huyện Nam Sách;
  • - Cơ quan THAHS – CA huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Bị hại;
  • - Lưu VP;

T.M Hội đồng xét xử sơ thẩm

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Trịnh Cẩm Vân

- Lưu hồ sơ vụ án

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Đắc Quýnh

Trần Thị Luận

Trịnh Cẩm Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 05/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 07/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T trộm Tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger