Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIẾN XƯƠNG

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HS-ST

Ngày 24-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG - TỈNH THÁI BÌNH

- C phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đoàn Thị Duyên.
  2. Bà Lương Thị Kim Oanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 116/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Anh T, sinh ngày 13/02/1986 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Nguyễn Công T1 (đã chết) và bà: Lê Thị P; bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền án; tiền sự: Không;

Nhân thân: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 17/2024/QĐ-TA ngày 02/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Thái Bình, thời hạn 15 tháng, chưa thi hành.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/7/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Trung C, sinh năm 1994; nơi cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Vũ Thị L, sinh năm 1978; nơi cư trú: Thôn Q, xã N, huyện K, tỉnh Thái Bình. Có mặt

- Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn T A, sinh năm 1995;
  2. Nơi cư trú: Tổ dân phố L, thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình;

  3. Anh Vũ Văn T2, sinh năm 1993;
  4. Nơi cư trú: Tổ dân H, thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình;

  5. Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1993;
  6. Nơi cư trú: Thôn N, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình;

  7. Anh Lê T3, sinh năm 1990;
  8. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình;

  9. Anh Vũ Văn T4, sinh năm 1984;
  10. Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình;

  11. Anh Phạm Quang H, sinh năm 1986;
  12. Nơi cư trú: Thôn N, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình;

  13. Anh Trần Vững T5, sinh năm 1987;
  14. Nơi cư trú: Thôn P, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình.

(Anh A1, anh T2, anh Đ, anh T3, anh T4, anh H, anh T5 đều vắng mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 22/5/2017, Nguyễn Trung C, Nguyễn T A, Trương Bảo C1, Vũ Văn T2, đi xe ô tô từ thị trấn K đến quán bi a của chị Vũ Thị L tại thôn Q, xã N, huyện K, tỉnh Thái Bình để đòi số tiền 30.000.000 đồng của anh Lê T3 cho anh Hoàng Văn T6. Khi C, A1, C và T2 đến quán bi a của chị L thì có 04 người đang đánh bi a tại 02 bàn, trong đó T3 đang đánh bị a với Trần Văn Đ; Phạm Quang H đang đánh bị a với Vũ Văn T7 Tại đây, T3 đưa số tiền 30.000.000 đồng cho T2 cầm. Tr, C, A1 và C1 đứng xung quanh khu vực bàn bi a của T2 và Đ xem. Do bức xúc vì bị che khuất tầm nhìn nên Nguyễn Anh T đang ngồi ở cửa quán bi a nói cả nhóm C đứng gọn vào, C nói lại thì T chửi, rồi T và C xảy ra to tiếng cãi chửi nhau. Sau đó, T đi lại xe mô tô nhãn hiệu Wave của mình lấy 01 túi bao da, đựng 01 dao lưỡi lê có cán làm bằng gỗ màu nâu dài 12cm, lưỡi dao dài 38cm làm bằng kim loại màu trắng, trên phần lưỡi có 02 rãnh hai bên, bản dao chỗ rộng nhất 3cm, mũi nhọn. T dùng tay phải cầm cán dao, tay trái rút vỏ bao da ném xuống đất, xong T cầm dao lưỡi lê chạy lại đứng đối diện cách anh C khoảng 0,5m rồi giơ tay phải cầm dao lên chém ngang về phía anh C nhưng anh C né tránh được nên không trúng, đồng thời anh C lấy gậy bi a ở bàn của anh Đ đang chơi vụt về phía T để chống đỡ rồi bỏ chạy xung quanh các bàn bi a. T đuổi theo và chém trúng 01 nhát vào vị trí mặt ngoài cánh tay phải anh C, T tiếp tục đuổi chém thì lưỡi dao trúng vào cột tuýp sắt ở trong lán bi a làm gãy phần mũi dao dài 12cm. Anh C cầm gậy bi a bỏ chạy ra đường liên xã N-T thì T vẫn tiếp tục cầm dao lưỡi lê bị gãy mũi đuổi theo chém trúng vị trí vai trái anh C, anh C dùng gậy bi a vụt trúng lưỡi dao lê của T làm gẫy một đoạn 11cm nữa rồi bỏ chạy vào quán canh cá nhà anh Tô Xuân T8 tại thôn Đ, xã N, huyện K, tỉnh Thái Bình. T đuổi theo anh C, anh C chạy xuống khu vực cuối nhà anh T9 thì bị T đuổi kịp. Tại đây, T dùng chiếc dao lưỡi lê đã bị gãy 02 đoạn lưỡi, đoạn lưỡi dao còn lại dài 15cm chém 01 nhát vào vùng T trái và chém 01 nhát vào mu bàn tay trái anh C. Sau đó, T dùng tay túm cổ áo và lôi anh C ra trước cửa quán bi a nhà chị L, T bắt anh C quỳ xuống đường nhưng anh C không quỳ mà chỉ ngồi bệt xuống đường dùng hai tay ôm vết thương trên đầu đang bị chảy máu, hai đầu gối co lên thì bị T cầm dao lưỡi lê bị gãy đâm 01 nhát vào đùi trái anh C. Được mọi người can ngăn nên T không đánh nữa, anh C được đưa đến Bệnh viện đa khoa huyện K sơ cứu, rồi chuyển lên bệnh viên đa khoa tỉnh Thái Bình và chuyển đến bệnh viện V điều trị vết thương. Sau khi gây thương tích cho anh C bị cáo T bỏ đi nơi khác. Do chưa xác định được đối tượng gây thương tích cho anh C nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã ban hành Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự số 05 ngày 24/10/2017. Ngày 04/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K điều tra vụ án hình sự, ngày 09/7/2024, Nguyễn Anh T bị bắt tạm giam.

Kết luận giám định pháp y về thương tích số 67/TgT ngày 20/6/2017 của Trung tâm pháp y Sở Y kết luận: Anh Nguyễn Trung C bị đa vết thương vùng đầu, cổ, vai, 02 tay và đùi trái do vật sắc gây lên làm mẻ đầu xa xương đốt bàn ba tay trái, đứt gân duỗi chung ngón 3, 4, 5 tay trái, đứt bán phần cơ duỗi cổ tay trụ phải, đứt cơ rộng ngoài đùi trái. Đã phẫu thuật khâu vết thương đầu, cổ, nối gân duỗi ngón 3, 4, 5 bàn tay trái, nối cơ rộng ngoài đùi trái, nối cơ duỗi cổ tay trụ phải, nẹp hộp đùi cẳng bàn chân trái, cẳng bàn tay trái. Hiện tại còn đau các vết thương, vận động ngón 3, 4, 5 tay trái hạn chế. Tỷ lệ tổn thương từng phần như sau: Đầu 08%, vai 02%; cổ 01%; tay phải 02%; bàn tay trái 10%; đùi trái 08%. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 28%.

Cáo trạng số 05/CT-VKSKX ngày 30/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Anh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Cố ý gây thương tích";

Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/7/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật Dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận về việc bị cáo Nguyễn Anh T và gia đình đã bồi thường cho anh Nguyễn Trung C số tiền 90.000.000 đồng. Anh Nguyễn Trung C không yêu cầu bị cáo bồi thường khoản tiền gì khác.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 dao lê dài 50cm, in dòng chữ AK-47CCCP, bị gãy làm 03 đoạn; 01 vỏ dao lê giả da, màu nâu; 05 đoạn cơ bi a, hình trụ bằng gỗ, chiều dài mỗi đoạn cán cơ 70cm; 05 đoạn cơ bị a, hình trụ bằng gỗ, chiều dài mỗi đoạn đầu cơ 69cm.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà: Bị cáo C khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Thái Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận gì đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, tỉnh Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ kết tội:

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Anh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã xác định. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng. Ngoài ra còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ như: Biên bản xác minh hiện trường, sơ đồ hiện trường; biên bản quản lý vật chứng; bản kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 22/5/2017, tại quán bi a của chị Vũ Thị L, thôn Q, xã N, huyện K, tỉnh Thái Bình; khu vực đường liên xã N-T trước cửa quán nhà chị L và trong quán canh cá nhà anh Tô Xuân T8, thôn Đ, xã N, huyện K, do mâu thuẫn nhỏ nhặt, bị cáo Nguyễn Anh T đã sử dụng dao lưỡi lê chém và đâm anh Nguyễn Trung C gây thương tích vùng vùng đầu, cổ, vai, 02 tay và đùi trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 28% (hai mươi tám phần trăm).

Chỉ vì nguyên nhân nhỏ nhặt bị cáo đã thực hiện hành vi dùng dao lưỡi lê chém và đâm gây thương tích tại nhiều vị trí trên cơ thể của bị hại, trong đó có 01 thương tích vùng thái dương. Tuy nhiên, các tài liệu trong hồ sơ cũng như lời khai của bị cáo, bị hại tại các giai đoạn tố tụng đều thể hiện: Khi bị cáo dùng dao gây thương tích cho bị hại vào vùng thái dương trái thì dao lưỡi lê đã bị gãy trước đó 02 đoạn (đoạn mũi 12cm, đoạn giữa 11cm), đoạn lưỡi dao còn lại dài 15cm nên mức độ sát thương sẽ không nguy hiểm như lúc dao lưỡi lê còn nguyên vẹn. Quá trình xô xát, khi bị cáo đuổi theo thì bị hại cũng có sự chống trả là lấy gậy bi a vụt về phía bị cáo làm gãy đoạn lưỡi lê của bị cáo. Bị cáo cũng không có hành động nào ngăn cản việc bị hại được đưa đi cấp cứu. Do đó, đủ căn cứ để xác định hành vi phạm tội của bị cáo nhằm mục đích gây thương tích cho bị hại. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, điểm i khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

...

i) Có tính chất côn đồ

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

...

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

[3] Về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Bị cáo Nguyễn Anh T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có nhân thân xấu, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc năm 2024, chưa thi hành.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Nguyễn Anh T đã C khẩn khai báo; đã nhờ gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng và tài sản quản lý: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: 01 dao lê dài 50cm, in dòng chữ AK-47CCCP, bị gãy làm 03 đoạn; 01 vỏ dao lê giả da, màu nâu của bị cáo là hung khí phạm tội; 05 đoạn cơ bi a, hình trụ bằng gỗ, chiều dài mỗi đoạn cán cơ 70cm; 05 đoạn cơ bi a, hình trụ bằng gỗ, chiều dài mỗi đoạn đầu cơ 69cm là tài sản của chị Vũ Thị L, chị L không đề nghị nhận lại, xét thấy không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình đã bồi thường cho anh Nguyễn Trung C số tiền 90.000.000 đồng. Anh C đã nhận đủ số tiền, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản tiền gì khác. Xét thấy sự thỏa thuận bồi thường của hai bên là tự nguyện, không trái pháp luật, Hội đồng xét xử ghi nhận.

[8] Vấn đề khác trong vụ án:

Đối với Nguyễn Trung C, Nguyễn T A, Trương Bảo C1 và Vũ Văn T2 được anh Hoàng Văn T6 nhờ vào quán bi a nhà chị Vũ Thị L tại thôn Q, xã N để gặp T10 lấy tiền nợ. T11, C, A1 và C2 đến không mang theo hung khí, không đánh và gây thương tích cho ai nên không có căn cứ để xử lý.

Bị hại Nguyễn Trung C, người làm chứng Trần Vững T5, Vũ Văn T4, Nguyễn T A khai: Trong quá trình Nguyễn Anh T cầm dao lưỡi lê đánh anh C gây thương tích thì có Phạm Quang H và một nhóm thanh niên khoảng 02 đến 03 người điều khiển xe mô tô mang theo hung khí đến chỗ anh C và tham gia đánh anh C. Tuy nhiên, tài liệu điều tra không xác định được nhóm thanh nhiên trên là ai, ở đâu, không có căn cứ chứng minh anh H và nhóm thanh niên này cùng tham gia đánh gây thương tích cho anh C nên không có căn cứ xử lý.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, i khoản 1) Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật Dân sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/7/2024.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của bị cáo Nguyễn Anh T và bị hại Nguyễn Trung C về việc bị cáo cùng gia đình bồi thường cho anh C số tiền 90.000.000 đồng (đã bồi thường xong).
  4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 dao lê dài 50cm, in dòng chữ AK-47CCCP, bị gãy làm 03 đoạn; 01 vỏ dao lê giả da, màu nâu; 05 đoạn cơ bị a, hình trụ bằng gỗ, chiều dài mỗi đoạn cán cơ 70cm; 05 đoạn cơ bi a, hình trụ bằng gỗ, chiều dài mỗi đoạn đầu cơ 69cm;

    (Vật chứng của vụ án đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện K theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản kê biên đề ngày 16/01/2025)

  5. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/01/2025). Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan CSĐT, cơ quan THAHS Công an huyện K, tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Thái Bình;
  • - Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Thái Bình (gửi qua Công an huyện K)
  • - Lưu HS, HCTP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG - TỈNH THÁI BÌNH về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 07/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG - TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Anh Tuấn bị truy tố về tội "Cố ý gây thương tích"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger