Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST

Ngày 23/01/2025

“V/v Ly hôn, tranh chấp về

nuôi con khi ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Xuân Hoài

Ông Lê Phi Long

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Nhật Lệ - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lam Thị Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 77/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 69/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Hoàng Thị L, sinh năm 1988; nơi thường trú: tổ A, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: anh Nguyễn Tiến D, sinh năm 1980; nơi ĐKTT: tổ A, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: Hàn Quốc, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1957; nơi thường trú: tổ A, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Hoàng Thị L trình bày: chị L và anh Nguyễn Tiến D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 07/8/2009 tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà mẹ đẻ của anh D tại tổ A, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Đến năm 2022, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống; từ tháng 10/2024, anh D đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, thời gian đầu vợ chồng còn thỉnh thoảng liên lạc với nhau qua điện thoại nhưng sau đó anh D không liên lạc với nhau nữa, anh D không cho chị L biết địa chỉ cụ thể của anh D tại Hàn Quốc nhưng anh D vẫn thường xuyên

liên lạc bằng điện thoại với mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị K. Chị L nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giải quyết cho chị L được ly hôn anh D.

- Về con chung: chị L và anh D có 02 con chung là Nguyễn Thanh T, sinh ngày 05/9/2010 và Nguyễn Minh K1, sinh ngày 16/6/2018. Hiện nay chị L và con chung Nguyễn Minh K1 đã không còn sống tại nhà mẹ đẻ anh D nữa, còn con chung Nguyễn Thanh T vẫn đang ở nhà với mẹ đẻ của anh D. Khi Tòa án giải quyết cho chị L được ly hôn với anh D, chị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị L là người được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung đến khi thành niên (18 tuổi). Chị L không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng cho con.

- Về tài sản chung, nợ chung: không có, chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại Công văn số: 4648/XNC(Đ1) ngày 14/11/2024 của Phòng Q – Công an tỉnh Q cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của anh Nguyễn Tiến D như sau: trường hợp Nguyễn Tiến D, sinh ngày 12/02/1980 đã xuất, nhập cảnh 03 lần; lần gần nhất sử dụng hộ chiếu số K03462457 xuất cảnh ngày 20/9/2024 qua Cửa khẩu hàng không quốc tế C, chưa có thông tin nhập cảnh Việt Nam.

* Trong quá trình tố tụng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị K trình bày: hiện nay anh Nguyễn Tiến D đang ở và làm việc tại Hàn Quốc theo diện du lịch, cũng mới đi từ tháng 9/2024, còn chị L do vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ trước khi anh D đi Hàn Quốc nên chị L thuê phòng trọ ở phường C. Trước khi anh D đi Hàn Quốc, hai vợ chồng đã mâu thuẫn từ tháng 2/2023, chị L có gửi đơn xin ly hôn đến Toà án C, sau đó lại rút đơn về. Đến khi anh D đi lao động tại Hàn Quốc, chị L lại xin ly hôn. Do anh D cũng mới đi, cả bà và chị L đều không biết địa chỉ cụ thể của anh D, vì anh D đi theo diện du lịch, thời hạn được 05 tháng. Anh Dũng vẫn thường xuyên liên lạc với bà K qua điện thoại để nói chuyện, việc chị L xin ly hôn anh D, bà K đã biết và cũng động viên, khuyên bảo chị L nhưng chị L nói là không còn tình cảm, anh D cũng nói với bà K là đồng ý ly hôn. Hiện nay con trai lớn của chị L và anh D đang ở với bà K, còn con trai bé thì ở với chị L. Bà K sẽ thông báo cho anh D biết việc Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đang thụ lý, giải quyết vụ án ly hôn theo yêu cầu cả chị L, thông báo cho anh D biết để anh D có văn bản gửi về Toà án hoặc thu xếp công việc về nước đến Toà án làm việc.

* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 12/12/2024, đối với cháu Nguyễn Thanh T, sinh ngày 05/9/2010; địa chỉ: tổ A, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, là con chung của chị Hoàng Thị L và anh Nguyễn Tiến D trình bày: hiện nay cháu đang ở với bà nội tại tổ A, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh để bà nội và cô giám sát việc học hành. Nếu bố mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:

- Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán; Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án, đã tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn chị Hoàng Thị L đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị L như nêu trên. Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh nhận thấy có căn cứ chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị L đối với anh Nguyễn Tiến D.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:

[1] Về tố tụng: căn cứ đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị L và tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình tố tụng, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”; bị đơn anh Nguyễn Tiến D hiện đang sinh sống, làm việc tại Hàn Quốc. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm a khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Nguyên đơn chị Hoàng Thị L vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Tiến D, vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho người thân trong gia đình anh D và tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại chính quyền địa phương nơi anh D đăng ký thường trú theo quy định pháp luật; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; hướng dẫn tại Công văn số: 253/TANDTC-PC ngày 26 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự và công bố các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Hoàng Thị L và anh Nguyễn Tiến D tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Quảng Ninh là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại nhà mẹ đẻ anh D; địa chỉ: tổ A, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Đến năm 2022, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo chị L trình bày là do bất đồng quan điểm sống; theo bà Nguyễn Thị P (mẹ đẻ anh D) trình bày: chị L và anh D xảy ra mâu thuẫn từ trước khi anh D đi Hàn Quốc, nên chị L thuê phòng trọ ở phường C. Khi anh D chưa đi Hàn Quốc, chị L có gửi đơn xin ly hôn đến Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, sau đó lại rút đơn về. Từ tháng 9/2024, anh D đi Hàn Quốc làm việc, chị L và anh D không còn liên lạc với nhau nữa, chị L không biết địa chỉ nơi ở, nơi làm việc của anh D tại Hàn Quốc; bà K trình bày: cả bà K và chị L đều không biết địa chỉ cụ thể của anh D tại Hàn Quốc, vì anh D đi theo diện du lịch, thời hạn được 05 tháng. Anh Dũng vẫn thường xuyên liên lạc với bà K qua điện thoại để nói chuyện,...Bà K sẽ thông báo cho anh D biết việc Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đang giải quyết yêu cầu xin ly hôn của chị L đối với anh D, để anh D có văn bản gửi về Toà án hoặc thu xếp công việc về nước đến Toà án làm việc. Chị

L thấy tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị L được ly hôn anh D. Căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy chị L và anh D không còn tồn tại đời sống chung vợ chồng, vợ chồng không thực hiện nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, chăm sóc, quan tâm giúp đỡ nhau cả về vật chất và tinh thần, không còn cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị L đối với anh D.

[2.2] Về con chung: chị Hoàng Thị L và anh Nguyễn Tiến D có hai con chung là Nguyễn Thanh T, sinh ngày 05/9/2010 và Nguyễn Minh K1, sinh ngày 16/6/2018. Từ khi anh D đi Hàn Quốc làm việc, con chung Nguyễn Thanh T ở với bà nội, con chung Nguyễn Minh K1 do chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung và không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng cho con. Căn cứ quy định tại Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cùng với nguyện vọng của cháu Nguyễn Thanh T là muốn được ở với mẹ. Hội đồng xét xử đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị L đối với anh D, anh D hiện đang sinh sống, làm việc tại Hàn Quốc nhưng không cung cấp địa chỉ cho chị L và người thân trong gia đình được biết. Nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu, quan điểm của chị L về việc nuôi con như nêu trên. Anh Dũng không phải cấp dưỡng cho con; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: chị Hoàng Thị L xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Về án phí: căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326 /2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Hoàng Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5] Chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh về nội dung giải quyết vụ án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 và khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị L.

[1] Về quan hệ hôn nhân: chị Hoàng Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Tiến D.

[2] Về con chung: giao cho chị Hoàng Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung Nguyễn Thanh T, sinh ngày 05/9/2010 và Nguyễn Minh K1, sinh ngày 16/6/2018 cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Nguyễn Tiến D không phải cấp dưỡng cho con.

Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Tiến D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu anh Nguyễn Tiến D lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Hoàng Thị L có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Hoặc nhận thấy chị Hoàng Thị L không đủ điều kiện bảo đảm quyền lợi ích của con thì anh Nguyễn Tiến D có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: không có, chị Hoàng Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về án phí: chị Hoàng Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005922 ngày 06/11/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho: chị Hoàng Thị L và bà Nguyễn Thị K, biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật; anh Nguyễn Tiến D biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Ninh;
  • - UBND phường Cẩm Thành,
  • TP. Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu HSVA; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 07/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger