|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 07/2025/QÐST-HNGĐ Ngày: 23/01/2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
(V/v Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con)
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc hôn nhân và gia đình gồm có:
- - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Xuân Trường - Thẩm phán
- - Thư ký phiên họp: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp công khai giải quyết việc hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 09/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2025, về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con”, theo Quyết định mở phiên họp số 43/2025/QÐST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2025, giữa:
-
* Người yêu cầu:
- - Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1994, Địa chỉ: KDC V, phường P, thị xã K, tỉnh Hải Dương.
- - Chị Nguyễn Văn T, sinh năm 1992, Địa chỉ trước khi xuất cảnh: KDC V, phường P, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Chỗ ở hiện nay: Đài Loan.
- * Người được anh T ủy quyền giao nhận, văn bản tố tụng: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1994, Địa chỉ: KDC V, phường P, thị xã K, tỉnh Hải Dương.
Chị N, anh T đều đề nghị giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ ĐÌNH:
-
* Theo đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Văn T, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Văn T tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K (nay là xã P, thị xã K), tỉnh Hải Dương vào ngày 01/5/2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên đến năm 2019 anh chị làm thủ tục đi lao động tại Đài Loan. Sang Đài Loan vợ chồng mỗi người sống ở một nơi, thời gian đầu anh chị vẫn thường xuyên liên lạc, chia sẻ cùng nhau cuộc sống. Nhưng do vợ chồng xa cách không chung sống cùng nhau nên tình cảm mờ nhạt dần, khi liên lạc anh chị thường xuyên xảy ra tranh cãi, bất đồng quan điểm, định hướng tương lai khác nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên vợ chồng không còn sự tin tưởng trong cuộc sống, đến năm 2021 chị N làm thủ tục về hẳn Việt Nam, còn anh T vẫn ở lại Đài Loan, từ thời điểm này vợ chồng không còn liên lạc gọi điện cho nhau nữa. Mặc dù được gia đình hai bên động viên khuyên bảo nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn. Chị N và anh T đã thống nhất việc ly hôn nên cùng làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Văn T ly hôn.
- - Về con chung: Anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị N có 02 con chung là Nguyễn Thị Thùy L, sinh ngày 23/11/2013 và Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 06/10/2015. Sau khi ly hôn chị N và T thống nhất thỏa thuận giao cả 02 con chung cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian anh T không ở Việt Nam thì anh T nhờ chị N chăm sóc chăm sóc các con chung cho đến khi anh T về nước, chị N nhất trí. Chị N và anh T tự thỏa thuận về việc cấp dưỡng nuôi con.
- - Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Anh chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
- - Về lệ phí dân sự: Chị N tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên họp chị N, anh T có quan điểm xin vắng mặt tại phiên họp và giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
- - Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về quan điểm giải quyết việc: Đề nghị Tòa án áp dụng Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Văn T; Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thị Thùy L, sinh ngày 23/11/2013 và Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 06/10/2015 cho đến khi trưởng thành. Công nhận sự thỏa thuận của chị N, anh T về việc anh T không yêu cầu chị N cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Tạm giao cháu L, cháu T1 cho chị Nguyễn Thị N chăm sóc trong thời gian anh T không ở Việt Nam; Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không giải quyết; Về lệ phí: Chị Nguyễn Thị N tự nguyện chịu 300.000 đồng lệ phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc hôn nhân và gia đình được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:
[1]. Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Văn T có đơn đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Anh Nguyễn Văn T hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan, anh T và chị N đều có địa chỉ tại thị xã K, tỉnh Hải Dương. Do vậy, việc dân sự yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của chị N, anh T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, theo quy định tại khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, điểm h khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Anh Nguyễn Văn T không trực tiếp tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng đã ủy quyền cho chị Nguyễn Thị N ở Việt Nam thay mặt anh T giao nộp các tài liệu, gồm: Đơn yêu cầu giải quyết việc hôn nhân gia đình; bản tự khai; giấy ủy quyền; Đơn xin giải quyết vắng mặt. Các văn bản của anh T đều được xác nhận của Văn phòng Kinh tế - Văn hóa Việt Nam tại Đ. Do vậy, các tài liệu này là hợp pháp.
Anh T và chị N đều đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị N được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K (nay là xã P, thị xã K), tỉnh Hải Dương ngày 01/5/2013, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Năm 2019, vợ chồng cùng đi lao động ở Đài Loan nhưng không làm việc cùng nhau mà mỗi người ở một nơi. Vợ chồng xa cách nên nảy sinh nhiều mẫu thuẫn, thiếu sự quan tâm và lâu dần không còn liên lạc với nhau. Hiện nay chị N đã về Việt Nam, còn anh T vẫn tiếp tục ở lại Đài Loan làm việc. Vợ chồng đã sống ly thân nên anh chị thống nhất làm thủ tục ly hôn. Xét thấy, tình trạng mâu thuẫn giữa anh T, chị N đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, các đương sự cùng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên cần chấp nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của anh T và chị N là phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.2]. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung Nguyễn Thị Thùy L, sinh ngày 23/11/2013 và Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 06/10/2015, các con chung có nguyện vọng được ở với bố. Ly hôn anh chị thống nhất thỏa thuận để anh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi trưởng thành, anh chị tự thỏa thuận về việc cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung. Trong thời gian anh T đang lao động ở Đài Loan, anh T nhờ chị N thay anh T chăm sóc cháu L, cháu T1 cho đến khi anh T về nước, chị N nhất trí. Xét thấy, nội dung thoả thuận của các đương sự phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với điều kiện thực tế, đảm bảo điều kiện tốt nhất cho các con, do đó cần chấp nhận thỏa thuận của các đương sự.
Người không trực tiếp nuôi con được được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Anh T, chị N không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[3]. Về lệ phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị N tự nguyện chịu 300.000 đồng lệ phí ly hôn sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, điểm h khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị N.
-
Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thị Thùy L, sinh ngày 23/11/2013 và Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 06/10/2015 từ tháng 01/2025 cho đến khi trưởng thành. Tạm giao cháu L, cháu T1 cho chị N chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh T không ở Việt Nam. Chị N không phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng anh T.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về lệ phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị N tự nguyện chịu lệ phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo Biên lai thu số 0005464 ngày 03 tháng 01 năm 2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương (chị N thực hiện xong).
- Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Xuân Trường |
Bản án số 07/2025/QÐST-HNGĐ ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con
- Số bản án: 07/2025/QÐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị N và Nguyễn Văn T thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con
