|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM QUẬN Ô MÔN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2025/HSST
Ngày: 23/01/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Châu
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hồ Minh Khương;
- Bà Võ Thị Thúy Đoan
- - Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ô Môn.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Mô tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thạnh Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị L, giới tính: nữ, sinh ngày 01/01/1970, tại Tiền Giang.
Nơi thường trú: số B, đường L, khóm B, phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Nơi ở hiện tại: số H đường P, khóm G, phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ văn hóa: 00/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Nguyễn Văn D (c) và bà Trần Thị H (c); Bị cáo không có anh chị em. Chồng Lê Văn L1, sinh năm 1966, bị cáo có 04 người con.
Tiền sự: không.
- Tiền án:
- Ngày 21/12/2021 bị Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/6/2023, không có các nghĩa vụ dân sự phải chấp hành.
- 2 -
- Nhân thân:
Ngày 22/01/2008 bị Tòa án nhân dân Thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 04 tháng 09 ngày tù về tội trộm cắp tài sản theo Bản án hình sự sơ thẩm số 08. Bị cáo được trả tự do tại tòa, đã chấp hành xong án phí hình sự.
Ngày 21/11/2008 bị Tòa án nhân dân Thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo Bản án hình sự sơ thẩm số 115.
Ngày 22/12/2008 bị Tòa án nhân Thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 09 tháng tù về tội trốn khỏi nơi giam và 01 năm 6 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.
Ngày 26/8/2015 bị Công an Quận 5 Thành phố H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.
Bị hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
Nguyễn Thị Kiều M, sinh năm 1993. Có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: khu V, phường T, quận Ô, Thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 30/9/2024 Nguyễn Thị L đi cùng con gái là Lê Thị Kiều M1 và cháu ngoại đi từ Sóc Trăng lên An Giang để lấy thuốc nam, trên đường về đến quận Ô thì rẽ vào đường 26/3 ăn uống và ghé vào tiệm Đ để mua đồ chơi cho cháu. Sau khi vào tiệm đồ chơi, trong lúc chọn đồ chơi thì L phát hiện chị Nguyễn Thị Kiều M cũng là khách đang lựa đồ chơi trong tiệm có mang balo phía sau không khóa, bên trong có một điện thoại di động nên L đã lấy trộm điện thoại của chị M. Sau khi lấy được điện thoại L cùng con gái và cháu ngoại đi về nhà ở Sóc Trăng. Vài ngày sau L đi xe honda ôm lên Cần Thơ khám bệnh, khi về do không có tiền trả tiền xe nên L bán lại điện thoại đã trộm được của chị M cho người chạy xe với giá 1.200.000 đồng, số tiền này L đã tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi phát hiện bị mất trộm điện thoại, chị M đã trình báo Công an và giao nộp cho Cơ quan điều tra đoạn video trích từ camera tại tiệm Đ. Qua quá trình điều tra xác định Nguyễn Thị L chính là người đã thực hiện hành vi trộm điện thoại của chị M nên đã tiến hành triệu tập L để làm việc. Quá trình điều tra L thừa nhận bản thân đã thực hiện hành vi trộm một điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy S21 FE có gắn một ốp lưng điện thoại tất cả đã qua sử dụng của chị Nguyễn Thị Kiều M, phù hợp với các chứng cứ mà Cơ quan điều tra thu thập được.
- 3 -
Tại Kết luận định giá tài sản số 118/KL/HĐĐGTS ngày 28/10/2024 của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận Ô kết luận: 01 điện thoại nhãn hiệu SamSung Galaxy S21FE có giá 4.067.000 đồng, ốp lưng có giá 30.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 4.097.000 đồng.
Đồ vật, tài liệu tạm giữ gồm:
- - 01 nón bảo hiểm nửa đầu màu trắng phía sau có chữ DEMEN, Milano's Style Italy của Nguyễn Thị L đã qua sử dụng;
- - 01 vỏ hộp điện thoại SamSung Galaxy S21 FE G990E (6G+128G) đã qua sử dụng do chị Nguyễn Thị Kiều M giao nộp;
- - Tiền Việt Nam 4.097.000 đồng là giá trị tài sản bị trộm do Nguyễn Văn N là con rể của bị cáo Nguyễn Thị L giao nộp cho Cơ quan điều tra.
Đối với Lê Thị Kiều M1 là người đi cùng bị cáo. Quá trình điều tra M1 khai nhận bản thân không biết mẹ của mình là bị cáo L có hành vi trộm cắp điện thoại, M1 không hay biết cũng không tiếp sức L trong việc trộm tài sản nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với M1.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại Nguyễn Thị Kiều M đã nhận lại được giá trị tài sản bị trộm và không yêu cầu thêm về trách nhiệm dân sự.
Tại bản cáo trạng số 18/CT-VKSOM ngày 06 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn đã truy tố Nguyễn Thị L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như đã nêu trong Cáo trạng.
Sau khi phân tích về nội dung vụ án, về nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị như sau: Đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, Điều 38, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 01 năm 6 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý theo quy định của pháp luật. Đề nghị công nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại giá trị tài sản là 4.097.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại giá trị tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.
Phía bị cáo: Thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trong Cáo trạng, không có tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
- 4 -
Tại lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ô1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và các đương sự khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với kết luận điều tra, biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, bản tự khai của bị cáo, cùng các tài liệu chứng cứ khác đã được tranh tụng công khai tại phiên tòa, chứng minh được: Lợi dụng sự sơ hở của bị hại là chị Nguyễn Thị Kiều M trong việc trông coi tài sản, nên bị cáo đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy S21FE tại tiệm Đ vào chiều ngày 30/9/2024. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt được xác định là 4.097.000 đồng, do vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Điều này cho thấy Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất an ninh trật tự tại địa phương, hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người trưởng thành, đủ khả năng nhận thức về hành vi của mình, biết việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, nguyên nhân phạm tội là do lười lao động, muốn có tiền để thỏa mãn tiêu xài cho bản thân mà không phải cực khổ lao động.
[4] Về nhân thân, mức độ phạm tội và lượng hình đối với bị cáo:
Bị cáo là người có nhân thân xấu nhiều lần bị xét xử về hành vi trộm cắp tài sản đã được xóa án tích, hiện bị cáo đang có 01 tiền án về tội “trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
- 5 -
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo cũng đã tác động gia đình nộp khắc phục giá trị tài sản cho bị hại, hồ sơ thể hiện bị cáo hiện cũng đang mắc bệnh u bứu ác tính nên trong quá trình lượng hình HĐXX cũng xem xét áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên với nhân thân xấu và tiền án đang có cho thấy bị cáo có thái độ xem thường pháp luật, hình phạt từ những bản án trước chưa đủ nghiêm khắc để răn đe bị cáo. Nên cần phải có mức án nghiêm khắc hơn để bị cáo nhìn nhận lại hành vi của bản thân, sống biết tu dưỡng đặt mình trong khuôn khổ của pháp luật. Vì vậy, mức hình phạt tù như đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại được giá trị tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng:
Các tài sản còn lại gồm: nón bảo hiểm nửa đầu màu trắng phía sau có chữ DEMEN, Milano's Style Italy của Nguyễn Thị L đã qua sử dụng; vỏ hộp điện thoại SamSung Galaxy S21 FE G990E (6G+128G) đã qua sử dụng do chị Nguyễn Thị Kiều M giao nộp; Các tài sản này không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Nguyễn Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Căn cứ vào: Điều 38, khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Thị L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
- - Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- * Về trách nhiệm dân sự: không đặt ra xem xét giải quyết.
- * Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 nón bảo hiểm nửa đầu màu trắng phía sau có chữ DEMEN, Milano's Style Italy của Nguyễn Thị L đã qua sử dụng;
- - 01 vỏ hộp điện thoại SamSung Galaxy S21 FE G990E (6G+128G) đã qua sử dụng do chị Nguyễn Thị Kiều M giao nộp;
- 6 -
Án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Châu |
Bản án số 07/2025/HSST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 07/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Nguyễn Thị Lan phạm tội “Trộm cắp tài sản” Căn cứ vào: Điều 38, khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Thị Lan 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. - Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. * Về trách nhiệm dân sự: không đặt ra xem xét giải quyết. * Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: - Tịch thu tiêu hủy: - 01 nón bảo hiểm nửa đầu màu trắng phía sau có chữ DEMEN, Milano’s Style Italy của Nguyễn Thị Lan đã qua sử dụng; - 01 vỏ hộp điện thoại SamSung Galaxy S21 FE G990E (6G+128G) đã qua sử dụng do chị Nguyễn Thị Kiều My giao nộp; Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. - Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng). Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết.
