TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2025/HS-ST Ngày: 23/01/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Danh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng và bà Phạm Thị Oanh
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Cao Thị Vân - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 23/01/2025, tại phòng xét xử trực tuyến trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu; Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An mở phiên tòa trực tuyến xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2025/TLST HS ngày 02/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST - HS ngày 13 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 26/8/1989 tại huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm X, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Đảng, đoàn: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Họ và tên cha: Nguyễn Thanh B - sinh năm 1953. (Đã chết); Họ và tên mẹ: Lê Thị K - sinh năm 1968; Anh chị em ruột có 07 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Nguyễn Thị H - sinh năm 1991; Con: có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: - Năm 2012, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999 tại Bản án số 24/2012/HSST ngày 05/4/2012. Chấp hành xong ngày 05/4/2013.
- Năm 2014, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt Nguyễn Văn T 05 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999; 12 tháng tù về tội “Gá bạc” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999. Tổng hợp hình phạt buộc Nguyễn Văn T chấp hành 17 tháng tù tại Bản án số 88/2014/HSST ngày 27/8/2014. Chấp hành xong ngày 31/8/2015;
- Năm 2021, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự tại Bản án số 141/2021/HSST ngày 28/7/2021. Chấp hành xong hình phạt ngày 06/5/2022.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/9/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 24/9/2024, Nguyễn Văn T đi bộ từ nhà đến khu vực Cầu L, thuộc xã D, huyện D mua ma túy về sử dụng. T gặp một người đàn ông không quen biết làm nghề lái xe ôm hỏi “Anh có biết chỗ mô bán hồng không?”, nghĩa là T hỏi người này có biết chỗ bán ma túy hồng phiến không, người đó hỏi “Lấy mấy tau đi lấy cho”, T đưa tiền rồi nói “Lấy em năm trăm”. Người đó cầm tiền đi đâu không rõ, sau đó quay lại đưa cho T 01 (Một) gói nilong màu đen, bên trong chứa ma túy hồng phiến. Sau khi mua được ma túy T đến nhà nghỉ Đ, thuộc khối B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thuê phòng 502 để nghỉ. Khi vào phòng, T kiểm tra gói ma túy thấy có 05 (Năm) viên, T xé mảnh nilong màu đen ban đầu thành hai mảnh rồi gói thành hai gói, một gói chứa 01 (Một) viên ma túy cất vào bên trong ống sắt của ghế tập thể dục trong phòng nghỉ; gói còn lại chứa 04 (Bốn) viên ma túy cất giấu trong túi nilong màu đen tại ghế tập thể dục. Sau đó T nằm nghỉ trong phòng. Đến khoảng 14 giờ 40 phút ngày 27/9/2024, thì bị tổ công tác Công an huyện Y phát hiện và bắt giữ. (BL: 74; 94, 95).
Tại Kết luận giám định số 900/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 03/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Các mẫu viên nén hình tròn màu hồng (ký hiệu M1, M2) thu giữ của Nguyễn Văn T gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,495 g (Không phẩy bốn trăm chín mươi lăm gam). (BL: 107)
Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKS-DC ngày 31/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 18 đến 21 tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày tạm giữ, tạm giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì thư được niêm phong đúng quy định, bên trong chứa 20 viên ma túy khối lượng 1,955g cùng vỏ vật chứng và vỏ bao bì niêm phong ban đầu; 01 (Một) phong bì thư được niêm phong đúng quy định, bên trong có 02 viên ma túy khối lượng 0,195 g, vỏ vật chứng, vỏ niêm phong ban đầu; 01 túi niêm phong ký hiệu NS1, mã số NS1A 0033480, bên trong có 01 mảnh nilong màu đen không rõ hình dạng, kích thước (7x8) cm, ký hiệu A1; 01 mảnh nilon màu đen không rõ hình dạng, kích thước (9x5) cm, ký hiệu A2; 01 mảnh nilon màu đen không rõ hình dạng, kích thước (12x10) cm, ký hiệu A3; 01 mảnh nilon màu đen không rõ hình dạng, kích thước (36x33) cm, ký hiệu A4.
Trả lại cho bị cáo 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A73 5G, màu đen, số Imei 1: 867593054316878, số Imei 2: 867593054316860, bên trong không gắn sim, đã qua sử dụng và 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Real me C55, màu đen, số Imeil: 866865065546672, số imei 2: 866865065546664, bên trong gắn sim số 0946771827, đã qua sử dụng.
Vật chứng hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu theo Phiếu nhập kho số 25NK033 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/01/2025.
Tại phiên tòa bị cáo nhận tội, không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện D, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.
[2]. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án thì đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 14 giờ 40 phút ngày 27/9/2024, tại phòng 502 nhà nghỉ Đ thuộc khối B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 05 (Năm) viên ma túy (Methamphetamine) có tổng khối lượng 0,495 gam (Không phẩy bốn trăm chín mươi lăm gam) với mục đích để sử dụng. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định của Bộ luật Hình Sự.
[3].Về tính chất vụ án; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý; gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, bị cáo có nhân thân rất xấu vì vậy cần xét xử nghiêm minh và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày sau khi tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Ngoài ra, trong quá trình khám xét tại khu vực nhà nghỉ Đ, thuộc khối B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Cơ quan điều tra còn thu giữ 01 (Một) gói nilon màu đen bên trong có 24 (Hai mươi bốn) viên ma túy tại mép tường phía Bắc sảnh tầng một. Tuy nhiên, không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh việc Nguyễn Văn T mua bán hay tàng trữ số ma túy trên nên không có căn cứ xử lý.
Đối với Hà Văn B1 (là đối tượng khai mua ma túy của Nguyễn Văn T), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y tách ra xử lý trong một vụ án khác.
[4]. Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có việc làm, không có tài sản nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền.
[5]. Về vật chứng:
Các vật chứng gồm 01 (Một) phong bì thư được niêm phong đúng quy định, bên trong chứa 20 viên ma túy khối lượng 1,955g cùng vỏ vật chứng và vỏ bao bì niêm phong ban đầu; 01 (Một) phong bì thư được niêm phong đúng quy định, bên trong có 02 viên ma túy khối lượng 0,195 g, vỏ vật chứng, vỏ niêm phong ban đầu; 01 túi niêm phong ký hiệu NS1, mã số NS1A 0033480, bên trong có 01 mảnh nilong màu đen không rõ hình dạng, kích thước (7x8) cm, ký hiệu A1; 01 mảnh nilon màu đen không rõ hình dạng, kích thước (9x5) cm, ký hiệu A2; 01 mảnh nilon màu đen không rõ hình dạng, kích thước (12x10) cm, ký hiệu A3; 01 mảnh nilon màu đen không rõ hình dạng, kích thước (36x33) cm, ký hiệu A4 cần tịch thu tiêu hủy.
01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A73 5G, màu đen, số Imei 1: 867593054316878, số Imei 2: 867593054316860, bên trong không gắn sim, đã qua sử dụng và 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Real me C55, màu đen, số Imeil: 866865065546672, số imei 2: 866865065546664, bên trong gắn sim số 0946771827, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn T không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.
Vật chứng hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu theo Phiếu nhập kho số 25NK033 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/01/2025.
[6]. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: N (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 27/9/2024).
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A73 5G, màu đen, số Imei 1: 867593054316878, số Imei 2: 867593054316860, bên trong không gắn sim, đã qua sử dụng và 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Real me C55, màu đen, số Imeil: 866865065546672, số imei 2: 866865065546664, bên trong gắn sim số 0946771827 đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn T.
Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì thư được niêm phong đúng quy định, bên trong chứa 20 viên ma túy khối lượng 1,955g cùng vỏ vật chứng và vỏ bao bì niêm phong ban đầu; 01 (Một) phong bì thư được niêm phong đúng quy định, bên trong có 02 viên ma túy khối lượng 0,195 g, vỏ vật chứng, vỏ niêm phong ban đầu; 01 túi niêm phong ký hiệu NS1, mã số NS1A 0033480, bên trong có 01 mảnh nilong màu đen không rõ hình dạng, kích thước (7x8) cm, ký hiệu A1; 01 mảnh nilon màu đen không rõ hình dạng, kích thước (9x5) cm, ký hiệu A2; 01 mảnh nilon màu đen không rõ hình dạng, kích thước (12x10) cm, ký hiệu A3; 01 mảnh nilon màu đen không rõ hình dạng, kích thước (36x33) cm, ký hiệu A4;
Vật chứng hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu theo Phiếu nhập kho số 25NK033 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/01/2025.
3. Về án phí:
Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Danh Hùng |
Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 07/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: XỬ PHẠT TÙ