Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN THẾ

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 07/2025/HSST

Ngày 24/01/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thế Đăng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Ngô Phiên

Bà Nông Thị Liên

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Xuân Tin – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 24/01/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Thế mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2025/HSST ngày 08/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HS ngày 13/01/2025 đối với bị cáo:

Trần Đăng K, sinh năm 1990; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn X, xã Q, thị xã K, tỉnh Hải Dương; Chỗ ở: Khu phố L, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Đảng viên bị đình chỉ sinh hoạt Đảng ngày 14/01/2025; Họ và tên bố: Trần Văn K1, sinh năm 1968; Họ và tên mẹ: Vũ Thị H, sinh năm 1968; Vợ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1995; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2019; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 12/11/2024 đến ngày 15/11/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Chị Nguyễn Thị Á, sinh năm 1995

Địa chỉ: Tổ dân phố S, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (đề nghị xét xử vắng mặt)

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Đức Đ, sinh năm 1992

Địa chỉ: Tổ dân phố S, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Buổi sáng ngày 10/11/2024, Trần Đăng K- sinh năm 1990, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú thôn X, xã Q, thị xã K, tỉnh Hải Dương; Chỗ ở khu phố L, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh đi taxi đến gia đình chị Nguyễn Thị Á- sinh năm 1995 ở tổ dân phố S, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang để ăn cỗ. Khoảng 11 giờ cùng ngày sau khi ăn cỗ xong, K đi lên tầng 2 nhà chị Á để đi vệ sinh thì thấy phòng ngủ của chị Á mở cửa nên đã nảy sinh ý định vào trong phòng tìm tài sản để trộm cắp. K đi vào bên trong phòng thấy ngăn tủ trên cùng bên phải của tủ nhựa, đặt ở bên trái cửa ra vào (theo hướng từ ngoài cửa nhìn vào) có cắm chìa khóa. K mở ngăn tủ ra thấy bên trong có 01 túi vải tối màu, bên trong có 02 cọc tiền, gồm nhiều tờ tiền loại mệnh giá 200.000 đồng, được buộc bằng dây chun màu vàng. K trộm cắp 02 cọc tiền cất giấu vào túi quần phía trước, bên phải đang mặc rồi đi taxi về nhà trọ ở khu phố L, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Khi về đến nhà trọ, K kiểm đếm số tiền trộm cắp được thấy cọc tiền thứ nhất gồm 100 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, tổng số tiền là 20.000.000 đồng. Cọc tiền thứ hai gồm 93 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, tổng số tiền là 18.600.000 đồng. Sau đó, K dùng dây chun buộc lại 02 cọc tiền như ban đầu và cất giấu tại phòng trọ của mình.

Ngày 12/11/2024, chị Nguyễn Thị Á gửi đơn trình báo đến Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

Cùng ngày 12/11/2024, Trần Đăng K đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đầu thú và tự nguyện giao nộp: Số tiền 38.600.000 đồng; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng kiểu dáng Iphone, số IMEI: 358181358906465, số IMEI 2: 358181359029549; 01 căn cước công dân mang tên Trần Đăng K. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành kiểm tra điện thoại thu giữ của K; Kết quả, không phát hiện nội dung liên quan đến hành vi phạm tội.

Ngày 12/11/2024, Cơ quan điều tra trích xuất từ hệ thống Camera an ninh của gia đình chị Nguyễn Thị Á có thời lượng 01 phút 06 giây thời gian từ 10 giờ 58 phút 42 giây đến 10 giờ 59 phút 48 giây có hình ảnh K đi từ hướng trong nhà ra ngoài cửa sau khi thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” của chị Nguyễn Thị Á vào ngày 10/11/2024 tại tổ dân phố S, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang và cho K xem lại hình ảnh từ camera, K thừa nhận người đàn ông trong đoạn video trên chính là K.

Cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 07/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế đã truy tố bị cáo Trần Đăng K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế giữ nguyên bản cáo trạng truy tố bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 18 đến 20 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách 36 đến 40 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Trả lại cho bị cáo căn cước công dân và chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone nhưng tạm giữ chiếc điện thoại để đảm bảo thi hành án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo không tranh luận mà chỉ đề nghị giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện Y; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Tại phiên tòa, bị hại là chị Á đã đề nghị xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Đ vắng mặt nhưng đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Á và anh Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
  3. Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay là phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm và diễn biến của quá trình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 11 giờ ngày 10/11/2024, tại phòng ngủ của chị Nguyễn Thị Á- sinh năm 1995 ở tổ dân phố S, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Trần Đăng K- sinh năm 1990, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú thôn X, xã Q, thị xã K, tỉnh Hải Dương; Chỗ ở khu phố L, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh đã có hành vi trộm cắp số tiền 38.600.000 đồng của chị Nguyễn Thị Ánh .

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do vậy hành vi của bị cáo có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  1. Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương.

- Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: không có.

- Xét về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội, bị cáo đã đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tự nguyện giao nộp số tiền 38.600.000 đồng để trả cho bị hại, được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo cũng hoàn thành nghĩa vụ quân sự nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự

Từ tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo nêu trên. Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội đã trả lại toàn bộ số tiền trộm cắp cho bị hại, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Căn cứ Nghị quyết 02/2022/VBHN-TANDTC ngày 7/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự. Xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù giam cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương cũng có đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

  1. Về đối tượng khác trong vụ án: Đối với người đàn ông lái taxi đưa K đến và về, K không biết tên, tuổi, địa chỉ, không nhớ biển kiểm soát xe, không nhớ hãng taxi và K không nói cho người đàn ông đó biết việc K trộm cắp tài sản. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không có căn cứ để điều tra, xác minh.
  1. Về trách nhiệm dân sự:

Chị Nguyễn Thị Á không có yêu cầu gì về việc bồi thường thiệt hại và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Trần Đăng K nên Hội đồng xét xử không giải quyết về trách nhiệm dân sự.

  1. Về vật chứng:

- Quá trình điều tra xác định số tiền 38.600.000 đồng là tài sản thuộc quyền sỡ hữu hợp pháp của chị Nguyễn Thị Á nên ngày 19/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại số tiền này cho chị Á là đúng pháp luật.

- 01 căn cước công dân số [...] mang tên Trần Đăng K và 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng kiểu dáng Iphone, số IMEI: 358181358906465, số IMEI 2: 358181359029549, điện thoại cũ đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ chiếc điện thoại để đảm bảo thi hành án.

  1. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  1. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Trần Đăng K 20 (hai mươi) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách là 40 (bốn mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Đăng K cho Ủy ban nhân dân xã Q, thị xã K, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Trần Đăng K.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết.
  1. Về vật chứng: Căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

Trả lại cho bị cáo Trần Đăng K 01 căn cước công dân số [...] mang tên Trần Đăng K và 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng kiểu dáng Iphone, số IMEI: 358181358906465, số IMEI 2: 358181359029549, điện thoại cũ đã qua sử dụng nhưng tạm giữ chiếc điện thoại để đảm bảo thi hành án.

  1. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Trần Đăng K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - STP tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Yên Thế;
  • - CQCSĐT CA huyện Yên Thế;
  • - CCTHADS huyện Yên Thế;
  • - UBND xã Quang Thành;
  • - Bị cáo, đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Thế Đăng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HSST ngày 24/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 07/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Đăng K trộm cắp tiền
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger